Thứ Năm, Ngày 15 tháng 11 năm 2018 - Nhằm ngày 9 tháng 10 năm Mậu Tuất - PL 2562

Kiến Trúc

Nét Đẹp Của Gác Chuông Trong Kiến Trúc Tòng Lâm Tự Viện Phật Giáo Nhật Bản

E-mail Print PDF

Từ lâu lắm rồi tiếng chuông chùa là câu thơ tha thiết nhất của những khách lữ phương xa vắng nhà, là lời gọi nhớ những kỷ niệm vui buồn của của bao nhiêu tao nhân mặc khách, phong trần trong chốn nhân gian, rồi cũng là tiếng cảnh tỉnh ngộ thiền của các bậc Truy y Thiền lâm Đại đức. Tiếng chuông chùa là hồn của tự viện, là lời của Đức Đại Từ nhắn nhủ bao vong hồn lạnh lẽo mau quay trở về cõi Phật Tây phương. Trong bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của thi sĩ đời Đường - Trung Quốc có hai câu về tiếng chuông chùa rất nổi tiếng "Thuyền ai đậu bến Cô Tô, nữa đêm vẳng tiếng chuông chùa Hàn Sơn".

Chuông trong Thiền Lâm của Phật Giáo có rất nhiều thể loại, chuông lớn được treo trong gác chuông, hay để trong đại điện thì thường được gọi là Đại Hồng Chung, Đại Phạm Chung, người Việt Nam còn gọi là chuông U Minh với ý nghĩa khi thỉnh chuông, tiếng chuông sẽ vang đến tận cõi U Minh phổ độ các vong linh trong địa ngục.

Chuông còn được dùng làm hiệu lịnh, báo thời giờ sinh hoạt trong chùa thì được gọi là "Hoán chung", "Báo chúng chung". Chuông được dùng trong các thời hành lễ thì gọi là "Điện chung" hoặc là "Hành lễ chung". Chuông treo trong Thiền đường để hô thiền thì gọi là "Tiểu chung".

Chuông được dùng trong Phật Giáo có nguồn gốc từ pháp khí "Kiền Chùy", một vật minh khí làm bằng đồng hoặc gỗ được đánh lên làm hiệu lịnh tập chúng thời xưa của Phật Giáo Ấn Độ. Trong Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển thứ 24 có chép: "Ngày 15 tháng 7 là ngày chư Tăng kết hạ viên mãn, tăng trưởng thêm hạ lạp, gọi là ngày thọ tuế, Phật bảo ngài A Nan đánh kiền chùy vân tập Tăng chúng đến trước sân rộng...".

Phật Giáo truyền vào Đông Phương để thích ứng với văn hóa tập tục cũng như cuộc sống sinh hoạt của bản địa, cho nên từ cách ăn mặc cho đến lối sống, hành đạo và pháp khí, pháp vật được sử dùng trong Thiền gia đều có sự thay đổi cho thích hợp, vì vậy từ Kiền Chùy được đổi thành chuông và theo cách sinh hoạt của Phật Giáo Bắc Truyền mà chuông cũng có nhiều thể loại.

Đại Phạm Chung là chuông lớn nhất trong chùa, vì muốn tiếng chuông vang xa, thứ nữa Tòng lâm Phật Giáo Bắc Truyền khuôn viên rất rộng lớn, vì muốn cho mọi người gần xa đều nghe được tiếng chuông, cho nên cần phải có một không gian cao và thoáng để tiếng chuông dễ dàng vang xa cho nên kiến trúc gác chuông trong Tòng lâm cũng như tự viện Phật Giáo Bắc truyền ra đời.

Kiến Trúc Gác Chuông trong tự viện có nguồn gốc từ Chung Lâu, thuộc một trong những kiến trúc của cung đình, Chung Lâu thường làm trên các cổng thành hoặc là những lầu có đài thất cao, triều đình dùng tiếng chuông trong chung lâu để báo giờ sớm tối trong ngày, hoặc đánh lên báo hiệu khi hoàng đế băng hà, khi có binh biến hoặc chiến tranh. Thể thức Lầu chuông được Phật Giáo sử dụng đưa vào trong kiến trúc tự viện Phật Giáo Bắc Truyền theo các tài liệu ghi chép vào khoảng đời nhà Đường.

Trong sách Đọan Thành Thức... Tự Tháp Ký đời Đường có chép: "Theo chế độ trong chùa, quy định gác chuông được làm ở hường đông…". Trong sách Giang Châu Cảnh Đức Tự Tân Giới Đàn Ký đời Tống chép: "... 12 năm chăm coi, điện Phật, Sơn môn, hai dãy nhà trường lang, lầu chuông và Giới đàn…". Trong sách Tỉnh Thế Hằng Ngôn Cô Độc Sanh Quy Đồ Náo Mộng chép: "Chùa này gọi là Long Hoa Tự... trong chùa có một lầu chuông, khi gióng lên tiếng chuông vang xa đến mấy dặm…".

Đời nhà Đường các vị học Tăng người Nhật, khi qua Trung Quốc học rồi trở về đem kiến trúc tự viện của Phật Giáo Bắc Truyền về xây dựng trên đất nước Nhật Bản. Tất cả những ngôi chùa ở Nhật Bản hầu như chùa nào cũng có gác chuông, gác chuông trở thành kiến trúc không thể thiếu trong tổ hợp kiến trúc tự viện Phật Giáo Nhật Bản.

Gác chuông trong kiến trúc chùa Nhật, trãi qua bao nhiêu sự thăng trầm cũng như phát triển của Phật Giáo Nhật Bản, tùy theo tư tưởng văn hóa của từng tông phái Phật Giáo Nhật Bản, gác chuông cũng có sự thay đổi về hình dáng kiến trúc cũng như cách thức trang trí, tạo thành một phong cách đẹp nhiều hình thể kiến trúc rất riêng biệt đặc sắc, mang đậm dấu ấn văn hóa Nhật trong sự tôi luyện tư tưởng truyền thống Phật Giáo Bắc Truyền.

altaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltaltalt

Biên tập: Thích Tâm Mãn - Thích Minh Thông (chuaminhthanh.com)

Nghệ Thuật Trang Trí Sơn Đỉnh Trong Kiến Trúc Truyền Thống Tự Viện Nhật Bản.

E-mail Print PDF

Kiến trúc chùa chiền cung điện của Nhật Bản có nguồn gốc từ kiến trúc cung đình và tự viện Phật Giáo của đời nhà Đường-Trung Quốc, đây là lối kiến trúc gỗ mang đậm sắc thái văn hóa của người Đông phương, người Nhật có lẽ là những người gìn giữ và truyền thừa nghệ thuật kiến trúc Đông phương giỏi nhất, qua hơn 1000 năm lịch sử nét văn hóa nghệ thuật kiến trúc của đời Đường vẫn còn được bảo tồn nguyên vẹn trên đất nước Phù Tang.

Đọc tiếp ...

Nghệ Thuật Kiến Trúc Giá Đỡ trong các Tự Viện Phật Giáo Nhật Bản

E-mail Print PDF

Kiến trúc Phật Giáo Trung Quốc cũng như Phật Giáo Nhật Bản so với kiến trúc cung điện về qui mô thì không bằng, nhưng về nghệ thuật thì trội hơn rất nhiều so với kiến trúc cung điện. Nếu so về số lượng, vật liệu xây dựng hình dáng kiến trúc cũng có thể sánh ngang bằng với kiến trúc cung điện. Nếu nói về nội hàm văn hóa và chiều sâu nghệ thuật giá trị thẩm mỹ thì hơn hẳn kiến trúc cung đình.

Đọc tiếp ...

Nam Tạng Viện Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni Nhập Niết Bàn bằng đồng lớn nhất thế giới ở Nhật Bản

E-mail Print PDF

                                                                            Thích Minh Thông

 

Nam Tạng Viện nằm ở thủ đô Tokyo Nhật Bản, chùa khởi công đúc tôn tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Nhập Niết Bàn, hoàn thành vào năm 1995.  Tượng có chiều dài 41m, cao 11m, được đúc bằng đồng nặng 300 tấn lớn nhất thế giới.

Đọc tiếp ...

Kiến trúc Phật giáo qua các thời kỳ

E-mail Print PDF

Trần Lan Chi

Thời Trần, Phật giáo có những trường phái riêng của Việt Nam với những giáo lý thực tế trên nền tảng căn bản của tôn giáo từ bi, bác ái và vị tha. Phật giáo cũng được truyền bá nhưng ảnh hưởng không sâu rộng bằng thời Lý. Ðạo Nho bắt đầu có ưu thế rõ rệt do nhu cầu của việc trị nước của chính quyền, nhưng Phật giáo vẫn lớn mạnh và là chỗ dựa cho cuộc sống tinh thần của quảng đại quần chúng. Nhiều nhà vua, vương hầu, khanh tướng cũng xuất gia quy y cửa Phật. Năm 1299, vua Trần Nhân Tông xuất gia lên núi Yên Tử, lập ra Thiền Phái Trúc Lâm - hệ thống Thiền phái đặc trưng đầu tiên của Việt Nam.

Đọc tiếp ...