Thứ Năm, Ngày 16 tháng 7 năm 2020 - Nhằm ngày 26 tháng 5 năm Canh Tý - PL 2564

TẬP SAN LẮNG NGHE SỐ 1 - Bài 13 : Thử Ðọc Lại Bài Kệ "Ngộ Ðạo" Của Thiền Sư Hương Nghiêm Trí Nhàn

E-mail Print PDF

Thích nữ Quỳnh Dao

Bài 13  : Thử Ðọc Lại Bài Kệ "Ngộ Ðạo" Của Thiền Sư Hương Nghiêm Trí Nhàn

Thiền được phát xuất từ sự thân chứng của Ðức Phật, nên thiền phải được thực nghiệm ngay trong tự thân mỗi người. Khi nhận ra thể tánh sáng suốt của chính mình, đồng thời hiểu rõ bản thể của tất cả các pháp tức là ngộ được lý thiền. Câu chuyện về sự ngộ đạo của thiền sư Hương Nghiêm là một minh chứng đã làm nổi bật tôn chỉ " bất khả tư nghì " của thiền tông cũng như phương pháp khai thị độc đáo của chư vị Tổ sư.

 

Hương Nghiêm ( ? - 898) pháp hiệu Trí Nhàn, người Thanh Châu, là đệ tử của Bách Trượng Hoài Hải (720 - 814), nổi tiếng nghiên cứu nhiều kinh điển, nhưng vẫn không thấy được chỗ tâm yếu của thiền. Sau khi Bách Trượng tịch, sư đến bái yết Quy Sơn Linh Hựu (771 - 853). Một hôm, Quy Sơn hỏi : " Ta nghe ngươi ở chỗ tiên sư Bách Trượng, hỏi một đáp mười, hỏi mười đáp trăm, đó là người thông minh lanh lợi, nhưng ta không hỏi về sở học hay về kinh sách, giờ hãy nói thử một câu khi cha
mẹ chưa sanh xem !". Sư mờ mịt không đáp được, bèn trở về thất, soạn hết sách vở đã học qua để tìm câu đáp nhưng hoàn toàn không có. Sư than : " Bánh vẽ chẳng no bụng đói " và xin Quy Sơn chỉ giáo. Quy Sơn bảo : " Nếu ta nói cho ngươi, sau này ngươi sẽ mắng ta, vì ta nói là việc của ta, đâu có liên hệ gì đến ngươi ". Sư liền đem sách vở ra đốt hết, tự nghĩ : " Ðời này chẳng học Phật pháp nữa, chỉ làm tăng cơm cháo sinh sống bình thường, khỏi nhọc lòng chi ". Sư từ giã Quy Sơn, đi thẳng đến Nam Dương, chỗ di tích của Quốc sư Huệ Trung, cất am và trụ tại đây. Một hôm đang cuốc cỏ trên núi, tình cờ một hòn sỏi văng vào bụi tre, vang lên một tiếng, sư chợt tỉnh ngộ, phá lên cười. Sư trở về am tắm gội, thắp hương hướng về Quy Sơn đảnh lễ ca ngợi : " Hòa thượng từ bi hơn cha mẹ, khi trước nếu vì con mà nói thì đâu có ngày nay ". Sư làm bài kệ :

Nhất kích vong sở tri
Cánh bất giả tu trì
Ðộng dung dương cổ lộ
Bất đọa thiểu nhiên ky (cơ)
Xứ xứ vô tung tích
Thanh sắc ngoại uy nghi
Chư phương đạt đạo giả
Hàm ngôn thượng thượng ky (cơ)
Tiếng dội lùm tre quên sở tri
Có gì đối trị giả tu trì
Ðổi thay thần sắc nêu đường cổ
Nếp cũ tiêu điều chẳng trệ si
Chốn chốn dạo qua không dấu vết
Thanh sắc nào nhiễm được uy nghi
Mười phương đạt đạo đều như vậy
Tối thượng là đây, biết nói gì !

(Trúc Thiên dịch)

Bài thơ dịch của Trúc Thiên hình như còn nhiều điểm bất cập mà nguyên nhân có lẽ do cố dịch giả chưa nắm bắt được từ ngữ, văn lý và cả thiền lý của nguyên văn. Với tinh thần suụng Phật của Thiền tông, dù chỉ là ni sinh một lớp Gia Giáo luyện dịch Hán Tạng, con cũng xin sám hối với Tam Bảo mà đọc lại ý nghĩa bài thơ ngộ đạo của Ngài Hương Nghiêm.

Bài kệ này được giới Thiền học quan tâm rất nhiều vì biểu đạt được nét đặc thù của Thiền đốn ngộ phương Nam. Ở đây, chính sự bức xúc muốn " khám phá " cho ra " mối đạo ", Ngài Hương Nghiêm đã nung nấu chí nguyện thành khối, nên vấn đề ngộ đạo chỉ trong nháy mắt. Ðây chính là kết quả tất yếu của sự kiên trì bất thối, quyết tâm thể nhập chân lý của sư. Trải qua bao năm lặn hụp trong kinh điển, tham vấn các thiền sư, nhưng sư vẫn chưa nhận ra được " bộ mặt xưa nay " của mình. Tuy
nhiên, khi thời cơ chín mùi, chỉ một âm thanh vang lên từ bụi tre, sư liền bừng ngộ :

" Nhất kích vong sở tri
Cánh bất giả tu trì "

Tiếng vang ấy đã kích động tâm linh khiến sư quên cả sở tri, tức những điều lâu nay sư học được từ sách vở. Các pháp môn để tu trì cũng chỉ là giả lập mà thôi. Bởi vì thiền là sự chứng nhập bằng tâm, không liên hệ gì đến văn tự ngôn ngữ, nên những điều chúng ta biết được từ thầy, bạn, sách vở ... chỉ là " trí hữu sư ". Còn " trí vô sư " là " tâm bất sinh ", người người sẵn đủ, không phải thứ kiến giải, hí luận thường tình của thế nhân. Một khi mối nghi chợt vỡ cũng như giọt nước cuối cùng đã làm tràn ly nước, nên chỉ một cái nhăn mặt, một cái nháy mắt hay một cái khẩy móng tay thì " đường xưa" đã hiển bày, không còn rơi vào căn cơ nhỏ nhoi thấp kém nữa :

" Ðộng dung dương cổ lộ
Bất đọa tiểu nhiên ky "

Thật ra, " đường xưa" hay " gương mặt thật " của mỗi người luôn hiện hữu nơi mình, nhưng khi mê thì bị vô minh và phiền não che khuất nên chúng ta không thấy được, khi ngộ thì " rõ ràng trên đầu trăm ngọn cỏ, rõ ràng ý Tổ sư". Ðó chính là chỗ nói không thể đến và không thể nghĩ bàn của ý chỉ Thiền tông.

Hai câu kế tiếp " Xứ xứ vô tung tích, Thanh sắc ngoại uy nghi " là điểm then chốt của toàn bài kệ, đã nêu lên thể tướng và diệu dụng của " đường xưa".

" Xứ xứ vô tung tích " nghĩa là nơi nơi không dấu vết như Ðức Thế Tôn " tìm mãi mà không gặp kẻ làm nhà ", Ngài Hương Nghiêm khi chưa nhận ra " bản lai diện mục " của chính mình thì ngày đêm trăn trở, thao thức muốn thấy được " mày ngang mũi dọc " của nó thế nào. Thế nhưng càng chạy càng xa, dấu vết kia ngày càng dời đổi, biết bao giờ gặp được. Hình tiếng cũng vì thế mà lánh xa, đâu dám phiền lụy đến " đường xưa " : " Thanh sắc ngoại uy nghi " nghĩa là hình tiếng ngoài uy nghi. Hình tiếng là chỉ ngoại cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp). Nếu chúng ta không khéo quan sát bằng chánh trí tuệ thì chúng dễ làm thân tâm nhơ bẩn, cho nên thiền sư Phù Dung Ðạo Giai đã ân cần khuyên dạy chúng tăng :

" Ngộ thinh ngộ sắc như thạch thượng tài hoa
Kiến lợi kiến danh như nhãn trung trước tiết "

Nghĩa là :

" Gặp thanh gặp sắc như hoa trồng trên đá
Thấy lợi thấy danh như bụi rơi vào mắt "

Như vậy, có sự ngăn cách giữa ngoại trần với các uy nghi (đi, đứng, nằm, ngồi ...) của chúng ta. Trong mọi uy nghi, sự chú tâm tỉnh giác rất cần thiết để chúng ta không bị ngoại cảnh chi phối, làm cấu nhiễm thân tâm. Nhờ vậy, tâm mới tĩnh lặng và " gương mặt xưa nay " mới hiển bày. Cho nên thiền sư Viên Minh, trụ trì Tổ đình Bửu Long của hệ phái Nam Tông Therevada, đã rất khéo léo khi dịch lại câu này như sau :

" Nơi nơi không dấu vết
Hình tiếng ngoài uy nghi "

Tuy nhiên, ở cách thấy khác, cái nhìn của các bậc đạt đạo đâu chỉ dừng lại ngang đó. Các ngài thấu rõ thể tánh của các pháp là " tánh không ", có chi phải bận lòng. Lối dùng phủ định của phủ định ẩn tàng trong đây đã làm nổi bật thâm ý của thiền sư :

" Xứ xứ (phi) vô tung tích
Thanh sắc (bất) ngoại uy nghi "

Nghĩa là :

" Nơi nơi đều dấu vết
Hình tiếng thảy uy nghi "

Khi đã ngộ, đối với vạn pháp, thiền giả không còn cái nhìn quan ngại dấu vết hay không dấu vết nữa và với cái nhìn này thì nơi nơi đều dấu vết cũng không khác chi với nơi nơi chẳng dấu vết. Cũng thế, khi đã ngộ thì còn đâu chuyện e ngại đi đứng nằm ngồi vướng vào hình tiếng, cho nên " Hình tiếng thãy oai nghi " hoặc " Hình tướng ngoài oai nghi " cũng có gì khác nhau đâu ! Ðây là quan điểm " Ðạt thời biến cảnh thị, bất ngộ vĩnh quai sơ".

Nói rõ hơn, " nơi nơi đều dấu vết " khiến chúng ta thắc mắc, không rõ " dấu vết " ấy là gì, là dấu vết của trần cảnh hay tung tích của đường xưa ?

Khi chưa nhận được " gương mặt thật " của chính mình, chúng ta bị chi phối bởi ngoại trần. Khi hình bóng của một vật nào đó in vào đầu óc thì lập tức một hạt giống hay một dấu vết được kết tụ trong tàng thức. Cứ như thế, A Lại Da chất chứa biết bao chủng tử, nên dấu vết lưu lại thật không lường được. Chỉ khi nào " đối cảnh vô tâm " thì dấu vết kia tan biến và tung tích của đường xưa lại hiện ra. Trước mọi sự vật hiện tượng, " sự thật " ấy vẫn trùm khắp ngàn mây. Thử hỏi nơi nào không có tung tích của đường xưa ? Nó cứ ngời sáng và lừng lững ra đấy ! Thể tướng và diệu dụng của nó thật vi diệu, không thể chỉ bày. Ôi, sung sướng biết bao khi chúng ta thể nhập vào bản thể ấy ! Ðấy là bản tính chân thật của vạn vật vốn " tròn đồng thái hư, không thiếu không dư, ở phàm không giảm, nơi thánh không tăng, trong phiền não chẳng bấn loạn, vào thiền định chẳng u tịch, không gián đoạn mà
cũng không liên tục, không đến cũng chẳng đi, không ở chính giữa mà cũng chẳng ở trong ngoài, không sinh cũng không diệt, thể tính và tướng trạng thường trụ, vĩnh hằng, không biến đổi " (Ðại sư Huệ Năng). Bản tính ấy thênh thang trùm khắp, vượt cả không gian và thời gian, nên nói " nơi nơi đều dấu vết". Ðến chỗ này rồi thì uy nghi nào dính mắc vào thanh sắc và thanh sắc nào vương vấn vào uy nghi ? Thể tướng của chúng cũng như hư không kia chưa từng sai biệt. Hư không khi tối cũng
như hư không khi sáng. Sáng tối tự đến tự đi, chứ hư không vốn không lay động. Do đó, khi không còn ranh giới giữa uy nghi và hình tiếng thì còn đâu " ta " và "người ". Phải chăng " sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính thực là không, không chính thực là sắc " là lý này vậy
!

Không riêng thiền sư Hương Nghiêm, các bậc thượng căn thượng trí đều ngộ đạo từ lý " viên thông, vô ngại " này của muôn sự muôn vật và đều khẳng định lý tánh tuyệt đối của vạn pháp chính là tại đây :

" Chư phương đạt đạo giả
Hàm ngôn thượng thượng ky "

Ngay lúc nhướng mắt nhíu mày, giơ tay dỡ chân mà các ngài nhận được thể tánh vốn rỗng lặng ấy.

Thiền sử cũng ghi lại nhiều vị thiền sư có cơ duyên ngộ đạo tương tợ thiền sư Hương Nghiêm, chẳng hạn câu chuyện của một thiền tăng, nhân nghe hai câu kệ " Các pháp từ xưa nay, Tướng thường tự vắng lặng ", nhưng vì chưa nhận ra thể tánh các pháp vốn vắng lặng nên Ngài ôm ấp mối nghi mãi trong lòng. Một sáng xuân nọ, khi đang ngồi trước cửa chùa, thấy muôn hoa đua nở, nghe chim Hoàng Oanh hót líu lo trên cành, Ngài liền hoát nhiên đại ngộ và đọc tiếp hai câu thơ :

" Xuân đến trăm hoa nở
Hoàng Oanh hót trên cành "

Như vậy, các ngài ngộ đạo là thấy được bản thể chân thật của vạn pháp, nhận được bản tâm thanh tịnh của chính mình.

Qua câu chuyện " ngộ đạo " của thiền sư Hương Nghiêm, chúng ta thấy cơ duyên " sáng đạo " của sư thật đặc biệt. Từ chỗ " đốt hết sách vở ", nguyện " đời này không học Phật pháp nữa ", sư đã dồn hết tâm lực vào việc nội quán. Khi nhân duyên đến, như trái đã chín tự nhiên rụng xuống, sư bừng ngộ. Ðó là kết quả của cả một quá trình công huân, thực nghiệm, khao khát chân lý, chứ không phải " một sớm một chiều " mà sư ngộ được " việc lớn ". Từ sự chứng ngộ của sư, chúng ta liên tưởng đến lời nói của thiền sư Duy Tín đời Tống : " Trước 30 năm, tôi thấy núi sông là núi sông. Sau gặp thiện hữu tri thức chỉ dạy, tôi thấy núi sông không phải là núi sông. Nay được chỗ dứt sạch, tôi thấy núi sông là núi sông ". Tinh thần Thiền Tông được thể hiện rõ nét trong ý nghĩa này vậy !

Cuối cùng, xin chép lại bài thơ do thầy Thích Lệ Trang trụ trì chùa Viên Giác dịch để thay cho đoạn kết bài viết :

" Trúc dội quên sở tri
Nào phải do tu trì !
Nhướng mặt đường xưa lộ
Căn hèn giờ bỏ đi
Nơi nơi đều dấu vết
Hình tiếng thảy oai nghi
Khắp chốn bậc đạt đạo
Cho đó là thượng ky "

Thích nữ Quỳnh Dao


Những bài mới hơn:
Những bài cũ hơn: