Thứ Sáu, Ngày 21 tháng 2 năm 2020 - Nhằm ngày 28 tháng 1 năm Canh Tý - PL 2563

TẬP SAN LẮNG NGHE SỐ 1 - Bài 12 : Bình Luận Ðoạn Hội Thoại

E-mail Print PDF

Thích Phước Nghĩa

Bài 12 : Bình Luận Ðoạn Hội Thoại
Tổ ý, Giáo ý thị đồng thị biệt ?
Lưỡng cá miêu nhi nhất cá nanh !

Bài làm

Theo kinh Pháp Hoa thì Ðức Phật ra đời chỉ vì một đại sự nhân duyên là "mở bày, chỉ dạy cho chúng sanh ngộ và nhập tri kiến Phật". Nhân vì căn cơ của chúng sanh có nhiều sai biệt nên Phật cũng phương tiện tùy thuận mà nói ra nhiều pháp môn khác nhau để dẫn dụ chúng sanh từ từ, nhưng cuối cùng vẫn quy về mục đích chính, là giác ngộ, liễu thoát sanh tử. Chính vì vậy mà Phật giáo sau này chia ra nhiều tông phái tưởng như khác nhau nhưng nói gọn thì chỉ có hai là Thiền và Giáo, mà tiêu biểu của Giáo có thể tạm kể là Tịnh Ðộ tông. Do sự tương phản phần nào giữa Thiền và Giáo như vậy nên đọc vào thiền sử ta thấy rất nhiều hàng hậu bối khi đi tham học thường đặt câu hỏi với các bậc cao tăng là :

 

(Tổ ý, Giáo ý thị đồng thị biệt ?)

Tạm dịch : Ý của Tổ và ý của Giáo (kinh) là giống hay khác ? và có một Thiền sư Trung Hoa trả lời câu hỏi này là :

(Lưỡng cá miêu nhi nhất cá nanh !)

- Tạm dịch : Mọi con mèo đều hung dữ một thứ như nhau). Ta thử lạm bàn về vấn đề này. Trước là bàn về câu hỏi.

"Tổ ý" (ý của Tổ) là nói tắt thuật ngữ Thiền tông "Tổ sư Tây lai ý", là chỉ ý, cốt lõi của Tổ Thiền tông Ấn Ðộ thứ 28 là Bồ Ðề Ðạt Ma khi từ Tây Trúc sang Ðông Ðộ sáng lập Thiền tông Trung Quốc nên cũng có nghĩa là "chỉ ý của Thiền tông Trung Quốc" với chủ trương chẳng lập văn tự, truyền ngoài kinh giáo, chỉ thẳng tâm người, dùng tâm truyền tâm, thấy tánh thành Phật.

"Giáo ý" tức là chỉ ý của Giáo tông - nghĩa là giáo nghĩa, ý nghĩa chủ yếu của toàn bộ kinh giáo mà các tông thuộc về giáo nương tựa để lập tông.

Như vậy câu vị tăng hỏi phải dịch là "chỉ ý của Thiền tông và giáo nghĩa của Giáo tông giống hay khác nhau như thế nào ?

Về câu hỏi trả lời của Thiền sư thì đây là một loại câu có cấu trúc đặc biệt, dễ đưa đến dịch sai hiểu lầm, như nhiều người trong đó có cả các bậc tôn túc đã từng mắc phải, do đó ta cần phải phân tích kỹ.

Trước nhứt từ "Lưỡng cá" không có nghĩa là "hai con" mà là "tất cả" ; cũng như tiếng Việt Nam ta nói : "ba thằng say rượu" thì không có nghĩa chỉ có ba người uống rượu say mà là "tất cả bọn người say xỉn". Còn miêu nhi" chỉ có nghĩa là "mèo" chớ chẳng phải "mèo con", như nói "khất cái nhi" là "kẻ ăn mày" chớ không phải "đứa ăn mày con". "Ðiểu nhi" là "chim" chớ không phải "chim con" vì chữ "nhi" đứng đằng sau là chuyết từ không thật nghĩa, tiếng Việt gọi là chữ đệm. Lại "nhất cá
nanh" có nghĩa ban đầu là "cùng giống nhau một thứ về bản tánh hung dữ" chớ chẳng phải là "chỉ có một con hung dữ", tức "đều hung dữ một thứ như nhau".

Ðồng với cấu trúc này ta thấy trong Thiền lâm có những câu như :

("Nhất cá quan tài lưỡng cá tử thi" nghĩa là : Mọi tử thi đều được bỏ vào quan tài liệm một cách như nhau), hoặc :

("Lưỡng khẩu nhất vô thiệt" là mọi cái miệng đều không có lưỡi như nhau). Hay :

(Cổ kim đồng nhất khâu : Người xưa và nay cuối cùng đều về nơi gò mã như nhau). Ðặc biệt câu "Lưỡng cá miêu nhi nhất cá nanh", cũng được Thiền sư Bảo Ứng Tông Lâm Tế, pháp tự của Ngài Hưng Hóa Tồn Tưởng sử dụng cũng nhằm mục đích biểu thị Phàm Thánh một thứ như nhau, khi có người thăm hỏi: "Phàm thánh ở chung nhau thì như thế nào ? (Tăng vấn : "Phàm Thánh đồng cư thời như hà ? Sư vân : Lưỡng cá miêu nhi nhất cá nanh").

Như vậy câu trả lời của Thiền sư : "Lưỡng cá miêu nhi nhất cá nanh" nên dịch : Mọi con mèo đều hung dữ như nhau" là hợp lý ; Nó chẳng những hợp lý về ngữ nghĩa theo cấu trúc ngữ pháp đặc biệt Trung Hoa mà còn hợp lý về mặt Phật lý, để giải đáp cho người thưa hỏi là vị tăng kia. Câu này rất nhiều người, kể cả các bậc tôn túc Phật học dịch "Trong hai con mèo con chỉ có một con hung dữ" rồi lý giải dong dài về hai mặt thiện ác của một chúng sinh lúc ban sơ được biểu thị bằng "mèo con" là vừa nhầm lẫn văn lý, vừa xa rời Phật lý ngàn dặm. Dịch như vậy sẽ đưa hành giả rơi vào kiến chấp nhị nguyên.

Thật vậy, sự nghi vấn của vị tăng về Thiền và Giáo cần phải được giải đáp đúng mức, nên Thiền sư đã mượn nghĩa bóng của câu : "Mọi con mèo đều hung dữ một thứ như nhau" để ngầm dạy rằng Thiền và Giáo chỉ khác nhau trên mặt hình tướng và phương tiện tu tập nhưng đều giống nhau ở mục đích rốt ráo là liễu ngộ giải thoát ; cũng như mọi con mèo đều khác nhau về hình thức như : ốm, mập, to, nhỏ, trắng, đen v.vẦ nhưng đều giống nhau ở cái tính hung dữ. Khi dùng chữ "nhất cá nanh" Thiền sư không hề có ý bàn đến bản tính hung dữ hay hiền lành của các pháp Thiền hay Giáo mà chỉ mượn ý để nói lên sự giống nhau giữa Thiền và Giáo (có thể biểu thị bằng Tịnh Ðộ tông). Cụ thể khi nhìn vào pháp tu, ta thấy Thiền tông chủ trương "bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền" chủ yếu dựa vào nội lực của chính mình thâu nhiếp tâm trí vào hiện tại trong khi đi, khi đứng, nói chung mọi hành động cử chỉ đều tĩnh thức. Hằng ngày áp dụng thời khóa tu tập bằng cách hành thiền, tạo thiền không cho vọng tưởng phát sanh rồi dùng trí tuệ quán chiếu và bao trùm tất cả trong một cái thấy hoàn diện nhất như. Còn giáo tông thì dựa vào lời dạy của Ðức Phật tựu trung trong 12 phần giáo để làm kim chỉ nam. Ngoài tự lực của chính mình rồi còn dựa vào tha lực của Phật A Di Ðà nữa. Nhưng xét kỹ thì Thiền và Giáo cũng là một mà thôi. Chẳng hạn như Tịnh Ðộ tông người chuyên niệm Phật A Di Ðà để được vãng sanh về thế giới của Ngài, hằng ngày đọc tụng kinh A Di Ðà để làm thời khóa tu tập. Tụng kinh và trì chú, niệm Phật nếu đạt đến chỗ chuyên chú nhất tâm bất loạn thì trí tuệ do đây mà phát sanh, an lạc do đây hiển bày, tức giống như trạng thái đạt đạo của thiền, cụ thể cũng như Tịnh Ðộ tông gồm có ba loại pháp môn niệm phật thì "Thật tướng niệm phật" là "quán lý thật tướng pháp thân trung đạo phi hữu phi không" là đồng với "thấy tánh khởi tu, thấy tánh thành phật" của Thiền tông. Còn "Xưng danh niệm Phật" khi đạt đến nhất tâm bất loạn thì cũng tức là "Thấy tánh thành phật hay triệt ngộ của Thiền". và "Quán tưởng niệm phật" tức là quán tướng hảo công đức của Phật, khi tâm tưởng được thuần nhất sẽ không còn tạp tưởng thì cũng là thấy tánh thành Phật". Hơn nữa, ở Thiền tông cũng không phải hoàn toàn chỉ có pháp "Thấy tánh khởi tu", "Thấy tánh thành Phật" mà còn có pháp tiệm tu, dựa vào sự học hỏi kinh điển của Giáo nữa, như chủ trương của vị đại thiền sư, Ngài Quốc sư Tuệ Trung đời Ðường và bao thiền sư khác nữa trong thiền sử Hoa Việt. Lại để thỏa mãn nghi vấn cho người tham học về câu hỏi này, có rất nhiều vị thiền sư Hoa Việt có những câu trả lời tương đồng với vị thiền sư này :

Một Thiền sư Trung Quốc tên là Hạo Giám nói :

(Kê hàn thượng thọ, áp hàn nhập thủy) nghĩa là "Gà bị lạnh thì leo lên cây, vịt bị lạnh thì lội xuống nước". Ðây cũng là mượn nghĩa bóng gà và vịt leo lên cây, lội xuống nước khác nhau về hình thức phương tiện nhưng giống nhau ở mục đích là "tránh lạnh" để trả lời câu hỏi của hậu học.

Còn một vị Thiền sư người Việt Nam là Tịnh Không nói :

(Vạn lý thê hàng giai triều khuyết) nghĩa là "kẻ bề tôi từ ngàn dặm xa xôi dù trèo non hay vượt biển cũng đều chung một mục đích là về chầu Vua". Ðây cũng là mượn nghĩa bóng "phương tiện khác nhau về hình thức nhưng cùng mục đích chung vậy". Hoặc "Trong Thiền Uyển Tập Anh" thiền sư Viên Chiếu đã dùng hình ảnh cùng một người mà khi cần tìm sự thanh thản, an vui thì có thể dùng hai phương tiện khác nhau là "chống gậy rong chơi đường núi, hay buông rèm gát cẳng nằm chõng tre" để đáp lại câu hỏi "Thiền vàGiáo khác hay giống nhau".

Lại có những bằng chứng thuyết phục cho giá trị đúng mức về lời đáp của vị thiền sư này là chính Ðức Phật đã nói trong nhiều pháp hội rằng : "Nước bốn biển chỉ có một vị mặn, tất cả giáo pháp của ta nói chỉ có một vị giải thoát". Bằng chứng hiển nhiên là Thiền tông do Phật truyền cho Ngài Ma Ha Ca Diếp rồi truyền mãi về sau này ; và kinh điển mà các tông thuộc về giáo y cứ để lập tông cũng chính do Ðức Phật nói mà thôi. Nắm được mục đích chính của Phật giáo nên chư tổ sau này đã
không cố chấp vào phương tiện mà mạnh dạn đứng ra xiển dương nhiều giáo nghĩa, tư tưởng kinh điển, pháp môn, tông phái khác nhau để rồi được tôn làm tổ của tông phái cùng lúc như Ngài Mã Minh là tổ của 4 tông, Ngài Long Thọ là tổ của 6 tông, Ngài Vô Trước là tổ của 2 tông và Ngài Thế Thân là tổ của 7 tông. Lại có khi những vị Ðại sư của hai tông Thiền - Giáo vẫn hòa hợp sống chung với nhau như tổ sư thứ 13 tông Tịnh Ðộ và thiền sư Hư Vân. Lại có người phải bắt thăm để chọn
pháp tu khi thấy mình có căn cơ tu cả hai pháp môn đều tốt, như Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ mà sau này vừa là tổ thứ 3 tông Thiền Pháp Nhãn mà cũng là tổ thứ 6 tông Tịnh Ðộ. Ngày nay cũng có không ít chùa, tăng chúng tu theo Thiền và Giáo khác nhau, nhưng vẫn hòa hợp sống chung hành đạo bình thường hoặc cụ thể Chùa Viên Giác đã mở lớp Gia giáo luyện dịch Hán tạng chủ yếu là Công án Thiền tông Hoa Việt và các khái luận quan trọng của Tịnh Ðộ tông.

Nói tóm lại, vị Thiền sư Trung Hoa này đã giải đáp câu hỏi của người tham vấn một cách bình dị chơn chánh, đúng đắn, hợp ý Phật lời kinh, được sự đồng tình của Chư Tổ sư, Ðại sư, bằng sự hiểu biết Phập Pháp sâu rộng, chánh kiến trí tuệ của mình. Như thế, ta có thể khẳng định rằng vị Thiền sư này đương thời phải làbậc lương đống cho Phật Pháp chớ chẳng phải riêng cho Thiền tông. Chúng ta ngày nay, cũng nên có cái nhìn chơn chánh như vậy và giúp cho người khác cũng thấy được như
mình. Có như thế, đời tu hành của chúng ta mới thật sự có ý nghĩa tốt đẹp cho tự bản thân mình và đối với người khác nữa, tức là hạnh tự lợi, lợi tha nên làm cho viên mãn đó vậy.

Bài làm của Thích Phước Nghĩa


Những bài mới hơn:
Những bài cũ hơn: