Thứ Năm, Ngày 2 tháng 4 năm 2020 - Nhằm ngày 10 tháng 3 năm Canh Tý - PL 2563

TẬP SAN LẮNG NGHE SỐ 1 - Bài 11 : Bình Giải Ðoạn Vấn Ðáp Ở Phần Tham Ðồ Hiển Quyết

E-mail Print PDF

Tăng sinh Minh Như

Bài 11 : Bình Giải Ðoạn Vấn Ðáp Ở Phần Tham Ðồ Hiển Quyết 
Trong Thiền Uyển Tập Anh

Vấn : "Tổ ý, giáo ý như hà ?"
Sư vân : "Hứng lai huề trượng du vân kính
Khốn tức thùy liêm ngọa trúc sàng"

 

Bài làm

Trong 49 năm thuyết giáo, bằng trí tuệ siêu tuyệt, Ðức Phật thấu rõ căn tánh từng chúng sanh, nên người nào hữu duyên đến với Ngài cũng đều được độ thoát. Trên cơ sở đó, các đệ tử muốn kế thừa sự nghiệp cao cả, lần lượt cũng phải đạt được ít nhiều tiêu chuẩn ấy. Cho dù không phải là bậc đại thánh như Ðức Phật, nhưng tối thiểu các thiền sư phải tháo gỡ được những gút mắc trong vấn đề tu hành khi có người hỏi về "thiền" và "giáo", mới mong giúp chúng sanh xé tan lưới nghi, vững niềm tin trụ trong chánh pháp. Ðể tìm hiểu điều đóù, ta thử bình giải đoạn đối thoại giữa một vị tăng và thiền sư Viên Chiếu ở phần Tham Ðồ Hiển Quyết trong Thiền Uyển Tập Anh như sau :

Vấn : "Tổ ý, giáo ý như hà ?"
Sư vân : "Hứng lai huề trượng du vân kính
Khốn tức thùy liêm ngọa trúc sàng"

Căn cứ nơi ngữ nghĩa thì "Tổ ý" nguyên là nói tắt của cụm từ "Tổ sư Tây Lai Ý", được xem là ý chỉ Thiền tông, là "Giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật". "Giáo ý" là nêu ý chỉ Giáo tông, tức 12 phần giáo mà hiện nay Phật giáo Trung Hoa y cứ vào để lập thành 12 tông. "Hứng lai huề trượng du vân kính, khốn tức thùy liêm ngọa trúc sàng" là con người ta khi vui hứng chí thì hay chống gậy dạo chơi đường mây trên núi và khi mệt, thì buông rèm trúc, lên giường tre mà lăn ra ngủ. Với cách giải lược như vậy, ta có thể tạm dịch đoạn đối thoại là :

Hỏi : "Ý tổ, ý kinh như thế nào ?"
Sư đáp : "Chống gậy, đường mây khi thích chí
Mệt, buông rèm trúc, ngủ giường tre"

Ý kinh và ý tổ, hay Thiền chỉ và Giáo nghĩa là vấn đề quan trọng cần đặt ra để quyết nghi cho người đương thời.

Sau khi thành đạo, Ðức Phật tích cực đem những tinh hoa thủ đắc chuyển vào lòng chúng sanh, đầu tiên là năm anh em Kiều Trần Như. Từ đó, giáo lý của Ngài ngày càng lan rộng. Suốt thời gian 49 năm giáo hóa, Ðức Phật chưa từng bảo với các đệ tử là giáo pháp của Ngài chia ra "thiền" hoặc "giáo", mà chỉ nghe Ðức Phật dạy rằng : "Giáo pháp của ta đồng một vị giải thoát mà thôi".

Mãi đến khi Phật giáo phát triển, được truyền sang Ðông độ thì mới có sự chia tông phái rõ ràng. Nhưng ta cần hiểu thâm ý của việc này. Các Tổ sư thấy được căn cơ chúng sanh trong đời mạt pháp kém cỏi, đắm nhiễm sáu trần sâu nặng, không thể trong nháy mắt mà hoát nhiên thấy được bản tâm, thông suốt các pháp, cho nên các ngài tùy duyên chia giáo pháp của ức Phật, y cứ theo đó mà lập thành 13 tông, cốt yếu cho chúng sanh đời sau dễ nắm bắt mà biết đường tiến tu đạo nghiệp. Thiện ý
đó thật khế hợp bản hoài chư Phật. Thế mà ta lại lầm đem cái suy tư nông cạn của mình, cho là lời dạy của Phật - Tổ, bảo rằng pháp Phật thật có "thiền" và "giáo", rồi tông này tông kia bài xích lẫn nhau, khiến kẻ hậu học "ngơ ngác", kẻ bàng quan chẳng khỏi che miệng cười thầm.

Thật ra, "thiền" hay "giáo" đều cũng chỉ là phương tiện, không phải chỗ rốt ráo mà Ðức Phật muốn chỉ cho chúng ta. Nếu ta nói ta là người tu thiền cao hơn nhóm người tu giáo thì lập tức "thiền" đó đã trở thành "giáo", vì lẽ "thiền" không có kẹt vào "thiền" với "giáo", lại chẳng như người chấp ngón tay cho là mặt trăng, vì ngón tay là phương tiện để cho ta thấy mặt trăng, mà lại lầm chấp ngón tay trên bàn tay, phân biệt cho là ngón này đẹp và ngón kia xấu.

Hiểu được điều này, ta thấy trong 12 giáo tông, nếu ta nương vào một tông để tu tập, liễu đạt vạn pháp vốn trong nhất tâm, sống tự tại, tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên, không nhàm sanh tử cũng chẳng thích Niết Bàn. Mọi pháp tu chỉ là chiếc bè đưa người qua biển khổ. Ðây mới chính là người tu thiền, dù rằng trên hình tướng, ta thấy họ nương vào "giáo" để thực hành. Như vậy, "thiền" không phải là pháp tu cao và "giáo" là pháp tu thấp hay ngược lại. Theo quan điểm của sư Nguyên Lai cho rằng "Thiền là cương của Giáo, Giáo là mục của Thiền", giềng lưới và mắt lưới nếu tách rời nhau, thật sự không mang về cho ngư dân dù chỉ một con cá. Cũng thế, "thiền" và "giáo", nếu ta thiên về một bên nào cũng đều không giúp được gì cho ta trong quá trình tu chứng cùng tột chân lý. Cho nên câu trả lời của thiền sư Viên Chiếu rất thường, vắn tắt nhưng sâu sắc và đầy ý nghĩa, chứng tỏ đây thật là thiền sư :

"Chống gậy đường mây khi thích chí
Mệt buông rèm trúc ngủ giường tre".

Vui, chống gậy đi chơi đường núi; mệt, buông rèm nằm ngủ giường tre là trạng thái rất bình thường để tìm sự thanh thản an nhàn cho mỗi con người. Thế thì việc tu hành cũng vậy ! Tu thiền hay tu giáo, tùy khả năng và trình độ mà khế hợp với pháp môn, hầu đạt được sự giải thoát làm chính. Ðồng câu hỏi này, thiền sư Tịnh Không trả lời một vị tăng rằng : "Vạn lý thê hàng giai triều khuyết", tức là "Vạn dặm đường xa, kẻ trèo non, người vượt biển, nhưng đều cùng mục đích là về
triều chầu vua", hay câu trả lời "Gà lạnh lên cây, vịt lạnh xuống nước" của Hạo Giám thiền sư chẳng hạn. Trời lạnh, chúng ta không thể bắt gà ở dưới nước hay buộc vịt ở trên cây, vì chẳng thích nghi với nó. Cũng vậy, giáo pháp của Phật tùy duyên do cơ cảm của chúng sanh sai khác mà Ðức Phật đối cơ nói pháp. Chúng sanh nhận thấy có pháp cao pháp thấp, kỳ thật họ có thể nương vào một pháp
nào đó mà tu thì cũng đều được lợi ích thiết thực. Bằng như đem tâm phàm tình chê pháp khác thì cho dù mình đang tu trong pháp "thiền", được nhân danh là "chính thống", cũng không thể chấp nhận được. Ngược lại, người tu giáo mà thấu triệt được "thiền" và "giáo" là một, nói khác hơn là thông đạt được vạn pháp vốn từ tâm chân như biến hiện, thì chính người này đã nếm biết được hương vị của "thiền". Ngược lại, nếu chỉ thấy có "giáo" là chính thống thì có khác chi anh tu thiền chưa triệt ngộ.

Chánh pháp của Ðức Phật dù "thiền" hay "giáo" đều có năng lực như nhau, nghĩa là đem lại sự an lạc thực tế cho mọi người trong hiện tại và mãi mãi về sau. Người lợi trí nghe qua liền tỏ ngộ, kẻ độn căn cần phải có thời gian huân tập, dần thành lợi trí. Ðiểm chính yếu cần nhắc luôn là đối với văn tự và sở tri thì đều phải loại bỏ, như Tổ Huệ Năng nói với vị ni Vô Tận Tạng : "Lý nhiệm mầu của chư Phật không có dính líu gì đến chữ nghĩa cả". Thế nên câu trả lời của thiền sư Viên Chiếu mới nghe qua rất đơn giản, nhưng ngầm mang tính hoàn toàn giải thoát, giúp chúng ta thấy được cái chấp lâu đời của mình, tạo cho chúng sanh một tầm nhìn đúng đắn về bản ý chư Phật xuất hiện ở cõi đời này.

Tăng sinh Minh Như


 


Những bài mới hơn:
Những bài cũ hơn: