Thứ Sáu, Ngày 18 tháng 9 năm 2020 - Nhằm ngày 2 tháng 8 năm Canh Tý - PL 2564

TẬP SAN LẮNG NGHE SỐ 1 - Bài 1: Giải đề thi vào lớp luyện dịch Hán Tạng chùa Viên Giác

E-mail Print PDF

Hậu học Lý Việt Dũng

Bài 1
Giải đề thi vào lớp luyện dịch Hán Tạng chùa Viên Giác

A. Phiên Âm

Hiệu (giáo) san " Lịch Ðại Pháp Bảo ký" tự

 

" Lịch Ðại Pháp Bảo ký" nhất quyển, hệ Ðường đại tả bổn, xuất ư Ðôn Hoàng lưu sa trung giả. Hữu nhị : Nhất tàng ư "Luân Ðôn Ðại Anh Bác Vật Quán", nhất tồn ư "Ba Lê Quốc Dân Ðồ Thư Quán". Lưỡng bổn câu dĩ kiến thu ư " Ðại Chính Tân Tu Ðại Tạng kinh", đệ ngũ thập nhất quyển trung. Kỳ nguyên văn phả tự bút ký, tạp lục chi thuộc, đãn nội dung tắc dữ " Lăng Già Sư Tư Ký" khả xưng vi sơ kỳ Thiền giáo sử liệu trung chi song bích dã ! Thư trung tính vị chú minh hà nhân sở trước, đãn tựu kỳ văn nghĩa suy chi, kỳ trước giả tự vi Kiếm Nam Thành Ðô phủ, Ðại Lịch Bảo Ðường tự, Vô Trụ Hòa thượng chi đệ tử, giảo " Lăng Già Sư Tư Ký" chi trước giả Tịnh Giác, thượng vãn nhất, nhị bối. Thư trung liệt cử Ðạt Ma dĩ tiền Tây quốc nhị thập bát tổ, nhi bác xích Tịnh Giác dĩ Cầu Na Bạt Ðà La vi sơ tổ chi thuyết vân :

Hữu Ðông Ðô sa môn Tịnh Giác sư, thị Ngọc Tuyền Thần Tú thiền sư đệ tử, tạo " Lăng Già sư tư huyết mạch ký" nhất quyển, vọng dẫn Tống triều Cầu Na Bạt Ðà La Tam Tạng vi đệ nhất tổ, bất tri căn do, hoặc loạn hậu học vân : " Thị Ðạt Ma tổ sư chi sư". Cầu Na Bạt Ðà La tự thị dịch kinh Tam Tạng tiểu thừa học nhân, bất thị thiền sư, dịch xuất tứ quyển " Lăng Già" kinh, phi khai thụ Lăng Già kinh dữ Ðạt Ma tổ sư. Ðạt Ma tổ sư tự nhị thập bát đại thủ vĩ tương truyền, thừa Tăng Già La Xoa hậu v.v...".

" Lăng Già Sư Tư Ký" trung, Tịnh Giác tự xưng vi Huyền Di đệ tử, nhi thử thư vân Thần Tú đệ tử. Kỳ thư danh phục đa " Huyết mạch" nhị tự, thục thị, thục phi, thù nan đoán định, nhi đương thời Sư tư ký lưu truyền chi quảng, khả dĩ chứng minh hĩ !

Bổn thư chi ký thuật Ngũ Tổ dĩ tiền, giai cứ " Sư Tư Ký", nhi văn tùng giản lược, kỳ Lục Tổ ký sự giảo vi tường tế. Kỳ hoặc vi Lục Tổ chi biệt phái dư ? Hựu kỳ "Tín y ca sa" chi lưu truyền, cập dữ Tắc Thiên Võ Hậu chi quan hệ, ký chi thậm tường. Phục hữu Trí Sân, Xử Tịch, Vô Tướng, Thần Hội đẳng chi ký tái, chí ư Vô Trụ Hòa thượng chi sự tích cập giáo lý, chú thuật vưu tường, đãi quá toàn thư chi bán, khả đoán vi Vô Trụ Hòa thượng chi môn nhân sở tác dã.

Kim tương toàn thư phân vi tam quyển : Lục Tổ dĩ tiền vi quyển thượng, dĩ Vô Trụ Hòa thượng vi quyển hạ, Trí Sân, Xử Tịch đẳng liệt vi quyển trung. Lưỡng bổn hổ hiệu (giáo), tiệt trường, bổ đoản, tính phân đoạn lạc, gia dĩ cú đậu, san nhập Khương Viên Tùng Thư trung, dữ tiền ấn chi Lăng Già Sư Tư Ký, tịnh hành ư thế, đãn Ðường tả nguyên bổn, vị đắc nhất duyệt, chuyên y tân Tạng, tư gia cải thoán, sơ lậu chi xứ, khủng sở nan miễn, thượng hy chư phương đại ngạn, tứ dĩ chỉ chính.

Tuế Ất Hợi chính nguyệt, Kê Lâm Kim Cửu Kinh chí ư Thẩm Dương vô sở đắc cư.

(Cứ Thiền Tông toàn thư quyển nhất, Sử truyện bộ).

B. Tạm Dịch

Lời tựa khi sửa chữa khắc in lại sách " Lịch Ðại Pháp Bảo ký"

Sách " Lịch Ðại Pháp Bảo Ký" một quyển, thuộc bản viết từ đời Ðường, được tìm thấy ở sa mạc Ðôn Hoàng. Có hai thứ quyển : Một hiện cất giữ ở Bác Vật Quán tại Luân Ðôn, nước Anh (British Museum) và thứ kia được cất giữ tại Quốc Dân Ðồ Thư Quán ở Ba Lê, nước Pháp (Bibliothèque Nationale). Cả hai loại bản đều thấy được đưa vào quyển 51 Ðại Chính Tân Tu Ðại Tạng kinh. Nguyên văn sách này có phần thuộc loại bút ký, tạp lục, nhưng nội dung thì cùng với " Lăng Già Sư Tư Ký" có thể coi như hai viên ngọc bích trong sử liệu ở thời kỳ đầu của Thiền Tông vậy !

Trong sách đều không thấy ghi chú ai là người trước tác, nhưng căn cứ theo văn nghĩa mà suy đoán thì hình như do đệ tử của Hòa thượng Vô Trụ, chùa Ðại Lịch Bảo Ðường ở phủ Thành Ðô, đạo Kiếm Nam, so với người trước tác " Lăng Già Sư Tư Ký" là Tịnh Giác thì hãy còn sau một hai thứ lớp. Trong sách liệt kê 28 vị tổ từ Ðạt Ma trở về trước ở Tây Trúc và bài bác thuyết lý của Tịnh Giác, coi Cầu Na Bạt Ðà La là sơ tổ Thiền Tông Trung Hoa như sau :

" ... Có vị sa môn là sư Tịnh Giác ở Ðông Ðô, đệ tử của thiền sư Thần Tú ở Ngọc Tuyền Sơn, soạn quyển "Lăng Già Sư Tư Huyết Mạch Ký " một quyển, trưng dẫn quàng xiên Cầu Na Bạt Ðà La Tam Tạng thời Nam triều Lưu Tống, là Tổ thứ nhất Thiền Tông Trung Hoa. Không biết căn do nên mê hoặc dối lừa kẻ hậu học khi cho rằng Cầu Na là sư phụ của Bồ Ðề Ðạt Ma. Cầu Na Bạt Ðà La chỉ là kẻ Tam Tạng Tiểu thừa học nhân dịch kinh, chứ không phải là bậc thiền sư vì ông ta đã dịch ra bốn quyển kinh Lăng Già. Ông ta cũng không phải là người khai thụ kinh Lăng Già cho Ðạt Ma tổ sư. Ðạt Ma là tổ truyền thừa, đời thứ 28 các tổ Tây thiên, sau khi kế thừa Tăng Già La Xoa v.v..." (1).

Trong sách " Lăng Già Sư Tư Ký", sư Tịnh Giác tự xưng mình là đệ tử của Huyền Di, nhưng sách " Lịch Ðại Pháp Bảo" này lại bảo sư là đệ tử của Ngài Thần Tú. Tên sách " Lăng Già Sư Tư Ký" cũng được thêm vào hai chữ " huyết mạch", không biết đằng nào đúng, đằng nào sai thật hết sức khó đoán định, nhưng việc đương thời sách "Sư Tư Ký" được lưu truyền rộng rãi có thể chứng minh được.

Sách " Lịch Ðại Pháp Bảo" này, phần ký thuật từ Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn trở về trước đều căn cứ theo " Sư Tư Ký", nhưng văn phong chuộng giản lược. Phần ghi chép về Lục Tổ Huệ Năng so ra khá tỉ mỉ, rành rọt. Vậy phải chăng là biệt phái của Lục Tổ ? Lại nữa, về chuyện lưu truyền áo cà sa làm tín vật và việc quan hệ của Tổ với Hoàng hậu Võ Tắc Thiên thì được chép nhặt rất rành rõ. Ngoài ra, lại còn có phần ghi chép về các ngài Trí Sân, Xử Tịch, Vô Tướng và Thần Hội nữa. Ðến như sự tích của Hòa thượng Vô Trụ cùng giáo lý của Ngài được chú thuật thật tỉ mỉ và chiếm hết nửa phần quyển sách thì ta có thể đoán là sách được môn nhân của Hòa thượng trước tác.

Nay Kim Cửu Kinh tôi xin đem sách phân ra làm ba phần : Từ Lục Tổ trở về trước là quyển thượng, lấy phần nói về Hòa thượng Vô Trụ làm quyển hạ và lấy đoạn nói về các ngài Trí Sân, Xử Tịch làm quyển trung. Lại đem hai dị bổn hiệu đính lẫn nhau, thêm thiếu, xén thừa, phân chia đoạn lạc, câu cú chấm phết, khắc in vào Khương Viên tùng thư, cùng với quyển " Lăng Già Sư Tư Ký" được in trước đây cho lưu hành trong đời một lượt. Tuy nhiên, bản viết hồi đời Ðường thì tôi chưa từng được xem qua lần nào mà chỉ căn cứ theo tân Tạng, đồng thời tự mình thêm việc sửa đổi, cho nên chắc không tránh khỏi những chỗ sai sót. Những mong được các bậc học rộng ban cho những chỉ giáo để kiểu chính.

Tháng Giêng năm Ất Hợi

Kê Lâm Kim Cửu Kinh cẩn chí tại Thẩm Dương vô sở đắc cư .

(trích ở " Sử truyện bộ" trong quyển 1, bộ Thiền Tông toàn thư)

--------------------------

Phiên Âm Phần A Câu II :

Thích Ca đại sư tọa đạo tràng tứ thập cửu tải, mạt hậu niêm hoa thị chúng, cố hữu giáo ngoại biệt truyền chi chỉ. Quả giáo ngoại biệt hữu truyền hồ ? Tông nãi giáo chi cương, giáo nãi tông chi mục. Cử nhứt cương tắc chúng mục trương. Chỉ tri lý mục, nhi bất thức kỳ cương giả, thị bất tri tông giáo chi đạo hiệp nhứt chi chỉ, sở vị kỳ lộ trung hựu hữu kỳ lộ dã. Khẳng tựu kỳ lộ kinh tuần kỳ cương giả, chư giáo trung giai hữu tông chỉ. Ðắc kỳ chỉ tắc nhứt ngôn nhứt tự giai tối thượng chi cơ. Như bất thức kỳ chỉ, nệ vu văn tự, tắc tông diệc giáo hỉ !

(Cứ " Nguyên lai quảng lục " quyển Nhị thập nhứt)

Tạm Dịch Nghĩa :

Ðức đại sư Thích Ca Mâu Ni chủ trì đạo trường Linh Sơn bốn mươi chín năm, cuối cùng nâng đóa hoa lên để thị ý với đại chúng, do đó mới có tông chỉ " giáo ngoại biệt truyền". Có đúng là ngoài giáo điển mà truyền thụ được chăng ? Thật ra, tông chỉ chính là giềng lưới của giáo nghĩa, còn giáo nghĩa lại chính là các mắt lưới của tông chỉ. Giương giềng lưới thì các mắt lưới căng ra. Nếu chỉ biết xử lý các mắt lưới nhỏ kia mà không biết tới giềng mối chánh thì vẫn còn chưa hiểu nguyên lý nhất trí của tông chỉ và giáo nghĩa. Như vậy, cũng kể như tại ngả ba lại có ngả ba nữa vậy !

Nếu như trong đám ngả ba kia mà mình biết mằn chọn giềng mối thì coi như trong mọi giáo nghĩa đều có tông chỉ cả. Như nhận thức rõ chỉ ý thì mỗi lời, mỗi chữ đều là thiền cơ tối diệu. Còn nếu không nhận thức rõ tông chỉ, lại câu nệ ở văn tự thì tông chỉ cũng chỉ là giáo nghĩa mà thôi !

(Trích " Nguyên Lai quảng lục" quyển 21)

Phiên Âm Phần B Câu II :

Thiếu thất tâm ấn, khởi lạc văn thái (thải) ? Cổ nhân liêu vi tiếp dẫn chi kế, thỉ quải thần vẫn, nhiên giai hồn phác, giản trực, khắc đích thị nhân, phi khoa hội sinh năng, ngoại sức quan mỹ nhi dĩ dã !

Hậu thế tức đại bất nhiên, điều chương trác cú, toản hoa thốc cẩm, cực ý biến lộng, các cánh tân kỳ. Khởi độc dâm xảo chi ý, quai nạp tăng chi bản sắc, nhi lý nhân từ hối, đạo dĩ ngôn táng. Dục kỳ nhất ngôn bán cú chi hạ, xúc phát linh cơ, bất diệc nan hồ ? !

Tạm Dịch :

Sơ Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma ở Thiếu Thất lấy tâm truyền tâm, chưa từng rơi kẹt vào ngôn từ hoa mỹ. Người xưa vì cần phương tiện để tiếp dẫn kẻ hậu học mới phải mở môi tuyên thuyết này nọ, nhưng cũng chỉ là những lời chất phác, ngắn gọn, nhằm thị ý chuẩn xác để chỉ vẽ cho người, chớ không phải để khoe tài hay nghề giỏi, cốt tô chuốt cho đẹp cái mã bên ngoài mà thôi !

Người đời sau thì hoàn toàn không phải vậy ! Họ lo giồi mài chương cú, đơm hoa cẩn gấm, cố gắng hết sức để nhồi nắn, cùng nhau tranh mới, đấu lạ, há chỉ là ý tưởng dâm xảo, làm trái ngược bản sắc của thiền tăng thôi đâu, mà đạo lý nhân ngôn từ phải bị lu mờ tiêu tan mất. Họ những mong với một lời, nửa câu của mình mà có thể nẩy bật linh cơ, há chẳng phải là một việc khó lắm đó ru ? (Trích " Nguyên Hiền quảng lục " quyển 29)

Hậu học Lý Việt Dũng tạm phiên dịch

Chú thích :

1. Ý tác giả chủ quan quá khích cho rằng phàm người nào đã dịch kinh thì chỉ là hạng " Tam Tạng Tiểu thừa học nhân", chứ không phải thiền sư, vì thiền sư như Bồ Ðề Ðạt Ma chẳng hạn, khi truyền pháp chỉ " mặc truyền tâm ấn",chứ không dùng ngôn ngữ văn tự như dịch kinh điển.

Hậu học Lý Việt Dũng