Thứ Hai, Ngày 19 tháng 4 năm 2021 - Nhằm ngày 8 tháng 3 năm Tân Sửu - PL 2564

Chu Sĩ Hành – Nhà du hành Tây vực đầu tiên của Phật giáo Trung Quốc

E-mail Print PDF

Trung Hạnh

A. Đôi nét về Phật giáo thời tam quốc (Nguỵ Thục Ngô)
Từ khi Phật giáo chạm ngõ vào triều hậu Hán, sứ mệnh Phật giáo từ Ấn độ sang sinh sống tại Trung Nguyên có nhiều biến động nhất định theo trục xoay của đế chế chính trị. Chính sự nhà Hán kể từ Hán Hoàn đế trở đi ngày càng rối ren. Sang thời Hán Linh đế thì mức độ rối ren thật sự nghiêm trọng. Nhà hậu Hán đứng trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn. Bọn hoạn quan và triều thần Đổng Trác mặc sức hoành hành, và các vị vua nhà hậu Hán chỉ ngồi trong hư vị mà thôi.

Tháng 10 năm 220 ngay sau khi Hán Linh đế bị phế truất, nhà Hán cáo chung, ba nước Nguỵ Thục Ngô xé cắt lãnh thổ ra đời. Cuộc chiến tranh hùng của ba nước kéo dài 60 năm (220 – 280). Đọc Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, chúng ta thấy sự tranh hùng lên đến tột đỉnh.
Nếu Nguỵ kế thừa nhà hậu Hán, lập đô ở Lạc Dương, thì nhà Thục kiến đô ở Thành Đô (nay là Tứ Xuyên) và Ngô đóng đô ở Kiến Nghiệp (nay là Nam Kinh). Mặc dù Lưu Bị luôn cho mình là người có trách nhiệm khôi phục nhà Hán (vì ông ta là dòng dõi của Hán Cảnh đế/ vị hoàng đế thứ 5 của nhà tiền Hán), nhưng khi ông lập đô và xưng vương, thì ông không phải là nhà Hán, mà là Thục Hán (Thục Chiêu Liệt đế). Thật ra, Lưu Bị là một ông vua kém cỏi về thao lược quân sự, vì ông vốn xuất thân từ nghề làm dép cỏ để sinh sống. Nhưng ông biết thu phục nhân tâm, nói chung là biết dùng người tuấn kiệt, nên Gia Các Lượng dốc lòng phò trợ ông. Nếu triều đình nhà Thục Hán thiếu ‘tam đào viên kết nghĩa’ và nhà quân sự thiên tài Gia Các Lượng, thì Lưu Bị chỉ là làm ‘vua’ của nghề làm dép cỏ bán dạo kiếm cơm thôi.
So với ba nước, thì Nguỵ ra đời đầu tiên, kế đến là Ngô, và sau cùng là Lưu Bị. Vì Thục ở phía tây, địa thế hiểm trở và hẻo lánh; dễ phòng ngự mà cũng khó tấn công nước ngoài. Có một điều lạ là, miền tây Thục thì ăn thông với Tây Tạng ngày nay, thế nhưng Phật giáo tại tây Thục thì nhàn nhạt, nếu không muốn nói là chẳng có bóng dáng của Phật giáo tại nơi này. Ngược lại thì ở Nguỵ và Ngô thì sự hoạt động Phật giáo của hai nước này có phần khởi sắc hơn. Theo ‘Nguỵ thư, Thích Lão chí’ thì Nguỵ Minh đế (Tào Nhuệ) rất thích đọc kinh Phật, và ông cũng từng sáng tác Phạm bối (tán tụng Phật giáo bằng hình thức phổ nhạc).
Một sự kiện đánh dấu Phật giáo đời nhà Nguỵ, đó là năm 250 vào đời Nguỵ Phế đế – Tào Phương, nhà sư Đàm-ma-ca-la (người trung Ấn) đến Lạc Dương hoằng truyền giới luật. Niên hiệu Gia Bình thứ 2 (250) Đàm-ma-ca-la dịch Tăng-kỳ Giới Bản tại Chùa Bạch Mã. Và ngài chính là vị đầu tiên hoằng dương luật học tại Lạc Dương, kinh đô nước Nguỵ. Không chỉ có ngài Đàm-ma-ca-la, đời nhà Nguỵ còn có những nhà truyền giáo người nước ngoài, như ngài Khương Tăng Khải dịch Úc già trưởng giả sở vấn kinh tại Lạc Dương, vào vào cuối năm Gia Bình (254). Sánh vai cùng Phật giáo ở Nguỵ, thì Phật giáo tại Giang Nam (kinh đô Kiến Nghiệp) của Ngô Tôn Quyền cùng bằng chị bằng em. Một bản chú thích kinh điển đầu tiên tai đất Giang Nam, do Chi Khiêm (Chi Khiêm là một cư sỹ) chấp bút chú giải, đó là bản kinh Liễu bản sanh tử kinh. Điều này chứng minh, tư trào học thuật ở Đông nam này không chỉ dừng lại viêc dịch kinh nữa mà tiến tới việc chú giải kinh điển, đó là một bước nhảy vọt về tư trào học thuật thời bấy giờ. Có lẽ, miền đất này hiếu khách, và chính quyền nới lỏng vòng tay đón nhận những nhà truyền giáo người nước ngoài, nên việc hoằng dương có phần khởi sắc hơn. Mặc dù tới đời Ngô Mạt đế (Tôn Hạo/ cháu của Ngô Tôn Quyền) vị vua cuối cùng của dòng họ Tôn này muốn triệt hạ Phật giáo, nhưng ông đã được Khương Tăng Hội giáo hoá, và ông trở thành vị Ưu-bà-tắc của ngài.
Trải qua ba cục diện đất nước bị phân cắt, Phật giáo vào triều đại này mỗi nơi mỗi vẻ, đó là câu trả lời tại sao: bản địa hoá là một vấn đề mà các nhà truyền giáo phải học thuộc lòng. Nếu ở Nguỵ, Phật giáo là ‘hậu duệ’ của triều hậu Hán, thì ởû Giang Nam, Phật giáo đặt chân lên miền đất lạ, nhưng những nhà truyền giáo gặt hái nhiều thành công. Dịch phẩm Lục độ lục tập kinh của Khương Tăng Hội, được Thang Dụng Đồng đánh giá là ngài sử dụng văn từ tao nhã, thành thạo trong việc sử dụng thành ngữ Lão Trang để vai mượn khái niệm nhằm chuyển tải giáo lý nhà Phật. Những thành công gặt hái của những nhà truyền giáo, đặt biệt là ở Lạc Dương, có lẽ phần nào bù đắp lại cho miền tây Thục, nơi mà Phật giáo chẳng có tí tẹo nào ánh sáng Phật pháp.


Hình: Chu Sĩ Hành được sao chụp từ “Trung Quốc Lịch Đại Danh Tăng” của Hà Tư Toàn, trang 25

B. Về Chu Sĩ Hành
Khoảng 2 năm sau, sau khi Sa-môn Bạch Diên (người Vu Điền) đến Nguỵ (đời vua Nguỵ Cao Quý Hương công) vào năm Cam Lộ thứ 3 (258) dịch và hoằng truyền Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác kinh (2 quyển), Tu lại kinh, Thủ lăng nghiêm kinh…thì Phật giáo tại Nguỵ có sự kiện vô tiền khoáng hâu, đó là sự việc Sa-môn đầu tiên của Trung Quốc đi Tây vực thỉnh kinh. Cũng trong những năm này, chính sự nhà Nguỵ cũng đang bơi vào vũng sình lầy: năm 265 Tư Mã Viêm phế Tào Mao lập nên nhà tiền Tấn. Như vậy, chỉ trong vòng 5 năm, biết bao sự cố xảy ra: thay vua đổi chúa, nhưng những nhà truyền giáo không quan ngại an ninh mà hoằng dương Phật pháp, đó là sự kiện ngài Chu Sĩ Hành lên đường ‘nhập Trúc cầu pháp’ đầu tiên của Phật giáo Trung Quốc.
1. Chu Sĩ Hành (朱士行) nhà du hành Tây vực đầu tiên của Phật giáo Trung Quốc
Hiện người viết chưa tìm ra một nguồn thư tịch Hán ngữ nào nói về năm sinh và năm mất của Chu Sĩ Hành. Cả Trung Quốc Lịch Đại Danh Tăng của Hà Tư Toàn và ‘Chu Sĩ Hành’ của Lữ Trừng trong Trung Quốc Phật giáo. Với Lữ Trừng, thì ông nói Chu Sĩ Hành sinh vào khoảng thế kỷ thứ 3 (约三世纪)
Ở phần trình bày này, hầu hết người viết dựa vào 西行求法先驱、朱士行 (Chu Sĩ Hành, người tiên phong trong phong trào tây du cầu pháp) của Hà Tư Toàn và ‘Chu Sĩ Hành’ của Lữ Trừng và một vài tài liệu hữu quan khác.
Ngài Chu Sĩ Hành, người đất Dĩnh Xuyên (nay là miền đông bắc huyện Hứa Châu, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc). Ngài vốn xuất thân trong một gia đình trí thức, phẩm hạnh trong sạch. Giữa niên hiệu Gia Bình (249 – 254) đời nhà Nguỵ (Tào Phương) huyền học thịnh hành. Tư trào học thuật bấy giờ bắt đầu xiển dương tư tưởng ‘Các pháp là không’ (chư pháp tất không) của tư tưởng Bát-nhã. Qua nhiều năm vun bồi và hấp thụ tư tưởng Đại thừa, ngài nghiễm nhiên trở thành nhà Phật học Đại thừa có tầm vóc lúc bấy giờ.
Tuy nhiên, sử liệu đề cập khi ngài bước vào độ tuổi chín mùi của tư trào học thuật tánh không của Đại thừa, thì ngài chưa chính thức trở thành một tu sĩ. Khi Đàm-ma-ca-la dịch Tăng-kỳ giới bản vào năm Gia Bình thứ 2(250) đời vua Nguỵ Phế đế– Tào Phương. Có lẽ là phải đợi sau khi dịch phẩm ra đời và truyền bá, ngài mới dựa vào quy định của luật tạng mà trở thành Tỳ-kheo người Hán đầu tiên của Trung Quốc. Hầu hết sử sách đều ghi nhận, ngài Đàm-ma-ca-la chính là người đầu tiên truyền dịch tác phẩm Tăng-kỳ giới bản tại Trung Hoa, và ngài được tôn vinh là thuỷ tổ luật học của Trung Quốc.
Sau khi chính thức làm Sa-môn, ngài coi hoằng pháp là sứ mệnh thiêng liêng của ngài. Vào thời ngài sống có bản dịch Bát-nhã đạo hạnh kinh 10 quyển do cao tăng Trúc Phật Sóc khẩu dịch, ngài Chi Khiêm chấp bút dịch thành Hán ngữ.
Trong một thời điểm khó khăn nhất định của thời cuộc, nên bản dịch ban đầu về tánh không Bát-nhã gặp nhiều khó khăn. Các nhà phiên dịch khi không đả thông vấn đề nào trong kinh điển, thì cắt xén, hoặc phớt qua. Vã lại từ ngữ trong kinh văn dùng quá nhiều từ địa phương, làm cho bản dịch khô khan và khó hiểu. Khi còn ở Lạc Dương học tập và giảng dạy đồ chúng, Chu Sĩ Hành đã vấp phải khó khăn này. Ngài than vãn là thâm áo của Đại thừa mà bản dịch như vậy thì không lột hết tư tưởng. Thế là, ngài lập chí quyên thân, viễn du cầu đại pháp. Ngài nghe ngóng rằng ở miền Tây vực có đầy đủ Phạn bản Bát-nhã kinh. Cho nên vào năm Cam Lộ thứ 5 (260) đời vua Nguỵ Cao Quý Hương công, ngài lên đường cầu đại pháp, từ đất Ung Châu (nay là phía tây bắc huyện Trường An, tỉnh Thiểm Tây) đi Tây vực.
Đi thỉnh kinh trong một thời điểm chính sự nhiễu nhương, chỉ một mình một bóng cất bước lên đường. Vượt suối trèo đèo, băng ngàn vượt suối, băng qua sa mạc mênh mông không một bóng người … Hành trình hơn 10 ngàn dặm, rồi ngài đặt chân lên ‘thị trấn Phật giáo’: nước Vu Điền (nay là huyện Hoà Điền, tỉnh Tân Cương). Nên biết rằng, Vu Điền thời ấy là nút giao thông quan trọng của đông – tây. Những nhà truyền giáo Tây Trúc trước kia từng lưu bước ở chốn này. Và Vu Điền thời bấy giờ thuộc truyền thống Phật giáo Tiểu thừa thuần tuý. Phật giáo Đại thừa thì chỉ lác đác vài nơi. Chu Sĩ Hành quyết dịnh ‘nhập cư’ trên miền đất lạ này. Một mặt âm thầm học tập, một mặt đi sưu tầm nguyên bản Phạn ngữ Bát-nhã kinh và chiêm bái thánh tích. Ngài đã từng tiếp xúc với những nhà nhà lý luận Phật học Tiểu thừa. Và sau thời gian nay, ngài bắt đầu thu nhận học trò người bản địa.
Không lâu sau, ngài quả nhiên tìm được nguyên bản Phạn ngữ Bát-nhã kinh, gồm 90 chương, hơn 60 vạn lời. Hành động của một người xứ lạ đến sưu tầm kinh điển đã làm cho những nhà Phật học Tiểu thừa thấy gay mắt. Họ đã sàm tấu với quốc vương nước Vu Điền là: Sa-môn người Hán muốn dùng kinh điển Bà-la-môn để làm lủng đoạn chánh pháp! Nếu không ngăn chặn hành động của Chu Sĩ Hành, thì hậu quả về sau thật khó lường. Lời sàm tấu này làm triều đình ưng thuận, và nghiêm cấm ngài mang kinh về nước. Kể cũng lạ, tại sao những nhà Phật học Tiểu thừa cho rằng kinh điển Đại thừa là kinh điển Bà-la-môn??? Nếu kinh điển Đại thừa là ‘sao bản’ của kinh điển Bà-la-môn thì tại sao nó lại có mặt ở Vu Điền? Và điều khó hiểu nữa là, sau khi quốc vương nghe lời sàm tấu của những nhà Tiểu thừa cố chấp, thì tại sao ngài không ra lệnh thiêu huỷ kinh này, mà chỉ ra lệnh ‘cấm không cho mang kinh về nước’ ? Đây ắt hẳn là những nhà Phật học Đại thừa gán ghép sự kiện này, nhằm đả phá những nhà Phật học Tiểu thừa nhỏ nhen chăng? Xưa nay hiếm thấy (nếu không muốn nói là không có) những nhà Phật học Tiểu thừa có ‘thù oán’ với Đại thừa, nhưng Phật giáo Đại thừa thì có, bằng chứng là toàn văn bản Kinh Duy-ma-cật: một cuộc tập kích có chủ ý nhằm bắn vào những nhà Phật học Tiểu thừa nhằm xiển dương giáo nghĩa Đại thừa thời kỳ phôi thai.
Tuy nhiên (nếu sự kiện này thật sự xảy ra) thì sau khi bị đòn những đòn xung kích từ những nhà cố chấp Phật học Tiểu thừa, Chu Sĩ Hành không nản chí, ngài ‘trường kỳ kháng chiến’ trong âm thầm, rồi cuối cùng ngài cũng đạt được mục đích: ngài đã cử 10 người đệ tử người Vu Điền (trong đó có Phất Như Đàn) mang kinh về Lạc Dương vào năm Thái Khang thứ III đời Tấn Vũ đế (282). Như vậy trải qua 23 năm, Chu Sĩ Hành mới hoàn thành sứ nguyện vượt gió băng ngàn để mang giáo lý Bát-nhã về phục vụ quê hương.
Sau khi sao chép hoàn chỉnh và đưa về Lạc Dương, tác phẩm này được dân chúng và tăng đồ hoan nghênh nồng nhiệt. Và sau 3 năm ‘yên nghỉ’ ở Lạc Dương, bản kinh này được chuyển tới Hứa Xương, rồi phải đến 2 năm sau đó thì bản kinh này được chuyển tới chùa Thuỷ Nam đất Thương Thản, Trần Lưu (nay là huyện Khai Phong, tỉnh Hà Nam). Và tác phẩm này được đã được một vị Sa-môn người nước Vu Điền, đó là ngài Vô-la-xoa và cư sĩ Trúc Thúc Lan dịch ra Hán ngữ, gồm 90 chương, 207621 chữ. Mãi đến năm 303 triều vua Tấn Huệ đế - Tư Mã Trung nhà Phật học thời danh là Trúc Pháp Tịch tới chùa Thuỷ Nam, ngài đã cùng với cư sĩ Trúc Thúc Lan hiệu đính bản dịch này. Như vậy, thời gian từ khi Chu Sĩ Hành sao chép Phạn bản rồi đưa về Lạc Dương ngót 21 năm.
Nếu Chi Khiêm dịch tiểu phẩm Bát-nhã, thì dịch phẩm này là đại phẩm Bát-nhã. Và sau khi dịch phẩm chào đời, nó đã được chào đón nồng nhiệt từ các giới học thuật thời bấy giờ. Những nhà Phật học thời danh lúc bấy giờ như Bạch Pháp Tộ, Chi Hiếu Long, Trúc Pháp Uẩn, Khương Tăng Uyên, Vu Pháp Khai…lần lượt hoằng dương áo nghĩa Bát-nhã. Người thì làm công việc chú sớ, người thì đảm nhận công tác quảng bá. Tất cả đều dựa vào dịch phẩm Phóng Quang Bát-nhã. Nhưng đáng tiếc là Chu Sĩ Hành chưa tận mắt nhìn thấy sự thịnh hành của Bát-nhã, mà bao tháng năm ngài sưu tầm được ở Vu Điền: ngài lưu lại ở Vu Điền để mất năm 80 tuổi. Và Vu Điền chính là quê hương thứ hai của Chu Sĩ Hành.
Với lòng nhiệt tâm hoằng pháp, vì sự nghiệp tuyên dương áo nghĩa Đại thừa Bát-nhã. Chu Sĩ Hành chỉ dựa vào tấm lòng thành, vững vàng trong ý chí mà vượt qua bao chướng ngại. Tinh thần ấy mãi là một tấm gương cho những nhà cầu pháp về sau như Pháp Hiển, Huyền Trang... Và trong lịch sử 105 vị cao Tăng tây du cầu pháp, Chu Sĩ Hành là người tiên phong trong phong trào ‘nhập trúc cầu pháp’
2. Khát quát về Phóng Quang Bát-nhã ( C: 放光般若經 )
( S: Pađcaviṃśatisāhasrikā-prajđāpāramitā )
Đây là dịch phẩm gồm 30 quyển về không tánh Bát-nhã do Cao tăng Vu Điền Vô-la-xoa tay cầm Phạn bản, Trúc Thúc Lan dịch từ Phạn sang Hán bằng hình thức khẩu dịch, cư sĩ Chúc Thái Huyền và Cư sĩ Châu Huyền Minh bút thọ (ghi lại lời dịch). Dịch phẩm này tương đương với quang tán Bát-nhã của Trúc Pháp Hộ, và đại Bát-nhã của ngài La Thập dịch về nội dung; còn về hình thức ‘dàn trang’ thì tương đối khác biệt. Hiện dịch phẩm này được tập thành trong Đại chính tạng, tập 8, No 221
Điểm khác biệt khá cơ bản là, trong Phóng Quang Bát-nhã thì vị thính chúng được Thế Tôn mời gọi dạy pháp ở Phóng Quang Bát-nhã không phải chỉ có Tu-bồ-đề, mà còn có ngài Xá-lợi-phất. Ở dịch phẩm của ngài La Thập thì Tu-bồ-đề gần như duy nhất đại diện cho thính chúng đương cơ pháp hội
Sau đây người viết lược dịch một đoạn từ quyển 3 (Đại chính tạng, tập 8, No 221, trang 22a)
(…) 須菩提白佛言:如我從佛所聞義,當知菩薩非為僧那僧涅。何以故?諸法空故。色痛想行識空,眼耳鼻舌身意、色聲香味細滑法、十八性,各隨其相各自空。檀波羅蜜至般若波羅蜜亦自空,內外空皆自空,從三十七品至佛十八法皆空。菩薩亦空,僧那僧涅亦自空。以是故,世尊!當知菩薩為非僧那僧涅。
Tu-bồ-đề bạch Phật: Nếu con nghe giáo pháp từ Phật thì con nhận ra rằng: vị Bồ-tát không phải là vị Bồ-tát của tứ hoằng thệ nguyện. Vì sao? Vì các pháp là không. Sự bức bách của sắc thọ tưởng hành thức cũng là không. Hay sự nhỏ nhiệm của nhãn nhỉ tỷ…, sắc thanh hương vị xúc, thập bát tánh. Mỗi pháp theo tự tướng của nó cũng là không. Từ Đàn-ba-la-mật đến Bát-nhã Ba-la-mật cũng là không. Cái gọi là nội không thì nó cũng là không. Từ 37 phẩm trợ đạo đến thập bát giới cũng là không. Bồ-tát cũng không nốt. Tứ hoằng thệ nguyện cũng vậy. Vì lý do đó, cho nên Thế Tôn, con biết rằng Bồ-tát không phải là Bồ-tát của tứ hoằng thệ nguyện
(Thuật ngữ cổ xưa về Tứ hoằng thệ nguyện là: Tăng-na-tăng-niết (僧那僧涅 ). Đây là hình thức dịch cũ xưa về tứ hoằng thệ nguyện, Phạn ngữ là saṃnāha-saṃnaddha)
Lược dịch một đoạn từ quyển 7 (sđd, trang 49a)
(…) 時舍利弗意作是念:云何此諸異道人輩遙繞佛一匝復道還去?佛知舍利弗意所念,告舍利弗言:用釋提桓因誦念般若波羅蜜故,異道人遙繞佛一匝復道還去。佛言:是異道士,無一善意來至佛所,但持勃意索佛長短耳。佛告舍利弗:若諷誦般若波羅蜜時,若天、若世間人,沙門、婆羅門、若異學士,持是勃意來,欲求其長短者,終不能得其便。何以故?是三千大千國土諸四天王、諸天子,乃至阿迦膩吒諸天子,及弟子、諸菩薩,受持般若波羅蜜故。何以故?是亦皆從般若波羅蜜中出生故。復次,舍利弗!東方恒邊沙國諸如來、弟子眾、辟支佛、菩薩、天、龍、鬼神,是輩皆受持般若波羅蜜。何以故?是皆出生於般若波羅蜜故。(Dịch: Khi ấy ngài Xá-lợi-phất nghĩ thế này: vì sao những ngoại đạo dị học đến đi nhiễu quanh Phật rồi lại lùi lại. Phật biết tâm niệm của Xá-lợi-phất, rồi ngài Xá-lợi-phất hỏi Phật: vì dạy Thích-đề Hoàn nhân tụng Bát-nhã Ba-la-mật, cho nên dị học ngoại đạo đi nhiễu quanh rồi lại lùi lại. Phật nói: những người ấy tới đây không phải vì lòng thiện chí, họ đi tìm chỗ hay dở của ta thôi.
Phật dạy: khi tụng Bát-nhã Ba-la-mật lên, nếu là trời, là người, Sa-môn, Bà-la-môn, dị học ngoại đạo…. đến đây để moi móc chỗ hay dở thì quyết không bao giờ được. Vì sao? Vì Tứ Thiên Vương của tam thiên đại thiên, các thiên tử cha, thiên tử con, các vị Bồ-tát…đều thọ trì kinh Bát-nhã Ba-la-mật. Vì sao ư? Vì tất cả (是) đều được sinh ra từ Bát-nhã. Hơn nưa này Xá-lợi-phất, phương đông cũng có hằng hà sa quốc độ có các đức Như Lai, Bồ-tát, các vị quỷ thần…đều thọ trì Bát-nhã Ba-la-mật. Vì sao? Vì tất cả đều được sinh ra từ Bát-nhã…”
Từ hai đoạn lược trích và dịch từ hai bản kinh văn trên, chúng ta thấy ngay được bản chất ‘lưu trữ’ của một xã hội Phật giáo đương thời được ánh hiện lên bản dịch từ Phạn sang Hán cách nay 1705 năm. Ngoài việc dùng từ ngữ lạ mắt, nó còn hàm tàng và phản ánh ‘tay nghề’ của một dịch phẩm. Và trên tổng thể, nó tương đương với hai bản dịch của đời sau (Trúc Pháp Hộ và La Thập).
C. Kết luận
Không có một cuộc hành trình nào mở đầu trải thảm cho những ai. Cái thuở ban đầu luôn mắc nhiều cạm bẩy và rủi ro. Nhưng những cái ban đầu luôn được ghi nhận như là những người khai sơn phá thạch. Dù công trình ấy không được toả sáng đi nữa, nhưng nó gợi cảm hứng cho các đời sau tiếp đuốc theo sau.
Hành động của cao tăng Chu Sĩ Hành, mặc dù chỉ mang về vỏn vẹn là Phóng Quang Bát-nhã kinh. Dịch phẩm cũng không ‘ăn khách’ cho các thế hệ nghiên tập. Thế nhưng, hành động vì Phật pháp quên mình, và để mình ở lại quê hương thứ hai, điều đó quả là một vĩ nhân: không chỉ mang kinh về phục vụ quê hương, làm khơi dậy bao niềm thao thức của ngài. Ngài xứng đáng được gọi là vĩ nhân trong lịch sử Trung Quốc: vị sứ giả đầu tiên về giao lưu văn hoá Trung Nguyên với Tây vực.