Thứ Năm, Ngày 16 tháng 7 năm 2020 - Nhằm ngày 26 tháng 5 năm Canh Tý - PL 2564

Thử bàn về vai trò người nữ trong kinh Dược Sư

E-mail Print PDF

Thích Thiện Trí

Dẫn luận
Rất nhiều giới phụ nữ không hài lòng khi đức Phật ‘xen kẻ’ vấn đề người nữ được thành Phật ‘gộp chung’ vào phẩm Đề-bà-đạt-đa (Phẩm 11, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa); cả người ác ôn và nữ nhân đều thành Phật trong phẩm 11 này.

nullMột người khó tính có thể đặt ra câu hỏi vừa nêu trên. Thế nhưng, nếu người ta đẩy lùi vấn đề này vào thế kỷ thứ VI trước Công nguyên thì quả thật không đơn giản.

Xã hội Ấn độ vào thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, vị trí nữ giới hoàn toàn không có vị thế trong xã hội lẫn trong gia đình, huống hồ chi là địa vị trong tăng đoàn! Thế nhưng, đức đạo sư đã nâng người nữ trong giáo đoàn của ngài. Điều đó nói lên, giáo lí từ bi của đức Phật đã chiếu cố đến tận ngỏ ngách của phàm nhân: địa vị nữ giới đã có mặt sau năm thứ V ngày thành đạo.

Một người ác ôn, đầy hiểm họa cho tăng đoàn, đức Phật cũng không vì những chuyện ấy mà bỏ qua cơ hội giúp ông trử thành một vị Phật tương lai (theo truyền thống Đại thừa). Tuy nhiên, khi ‘tập thành’ sự hiểm nguy và nữ nhân là một trong việc thọ ký đã làm cho phụ nữ phật lòng: thế chẳng phải đức Phật đồng đẳng hóa tội lỗi = phụ nữ [phụ nữ = tội lỗi] chăng?
Không một tôn giáo nào có dành một ngôi vị địa vị nữ nhân như trong giáo lĩ của đức Phật.
Người ta không thể đòi hỏi quá nhiều trong một thời cuộc không cho phép (trái với truyền thống xã hội mặc định). Thế nhưng, đức Phật đã mạnh dạn lập một ‘cơ sở thứ II’, đó là thành lập Ni giới song hành với Nam Tăng đoàn.

Hầu hết (nếu không muốn nói là tất cả), những kinh văn Đại thừa luôn coi chị em phụ nữ là đầu mối của những rắc rối; thậm chí những nơi còn coi phụ nữ còn hơn rắn độc cần phải tránh xa…
Câu hỏi được đặt ra:
Nếu phụ nữ là ổ chứa các mầm hiểm nguy và xấu xa thì tại sao cho ra đời những thánh A-la-hán? (vì không ai nói rằng: ‘tôi sinh ra là do tự nhiên mà có)
Kinh Pháp Cú, câu 165:
        "Làm điều ác do ta, và
        Làm cho ta ô nhiễm, cũng do ta.
        Do ta, không làm điều ác, và
        Làm cho ta trong sạch, cũng do ta.
        Trong sạch hay ô nhiễm đều tùy nơi ta.
        Không ai có thể làm cho người khác trong sạch."
Như vậy, khi một tội lỗi có mặt không phải là một tội ‘tổ tông’, vì chính ta chứ không ai khác đã làm cho mình nhiễm ô và ngược lại.

Cứ nhìn nhận trên mặt bằng ngôn ngữ: ‘phụ nữ là tội lỗi’ thì những Nam giới đạt giải thoát là do các bà mẹ…tội lỗi này sinh ra!?
Thế nhưng, có lẽ trong chúng ta đã chưa hiểu một cách toàn triệt vấn đề nữ nhân trong tư tưởng của đức Phật.
Ni giới được thành lập, tất nhiên phải kể đến công hạnh to lớn của tôn giả a nan, khi ngài khải thỉnh [thậm chí là...gày bẫy (!) để đức Phật chấp nhận ni giới trong tăng đoàn]
“Này Ananda, người nữ có khả năng chứng tứ quả sa môn”
Như vậy, với thánh ngôn này, đức Phật đã thừa nhận, nữ giới đồng đẳng về giá trị giải thoát như nam giới (nếu họ tu tập đúng chánh pháp)

Nếu bên Nam thánh A-la-hán có các cao đệ và sở trường đặc thù, thì đức Phật cũng thừa nhận những vị thánh nữ A-la-hán tương tự; tất nhiên không nên so sánh một cách khập khiểng, mà là chấp nhận chúng là một giá trị có thật (mà ở đây chính đức Phật chấp nhận họ như một sự kiện có thật). Đó là: 1. Nữ Tôn giả Maha Pajapati Gotamì (Ma-ha Ba-cà-ba-đề hay Kiều-đàm-di); 2. Nữ tôn giả Khema; 3. Nữ Tôn giả Uppalàvana (Liên Hoa Lâm); 4. Nữ Tôn giả Kisagotami; 5. Nữ Tôn giả Sonà; 6. Nữ Tôn giả Bhadda Kundalakesa; 7. Nữ Tôn giả Patacara; 8. Nữ Tôn giả Dhammadinnà (Pháp Thí); 9. Nữ Tôn giả Sumànà; 10. Nữ Tôn giả Ubirì; 11. Nữ Tôn giả Subhà; 12. Nữ Tôn giả Sìhà;
Nếu nam thánh A-la-hán có đạt ngộ nói lên sự mầu nhiệm trong trưởng lão tăng kệ thì bên Nữ thánh cũng có trưởng lão ni kệ, đại biểu là trong Tiểu Bộ III, chương XVIII, đoạn 125 nêu về nữ tỳ kheo Sanjhā
        Bỏ gia đình, xuất gia,
        Ta từ bỏ con cái,
        Từ bỏ gia súc quý,
        Từ bỏ tham và sân,
        Còn đối với vô minh,
        Ta sống hạnh viễn ly,
        Sau khi chinh phục được,
        Tận gốc cả tham ái,
        Ta được sống mát lạnh,
        Tịch tịnh và an lặng.
Như vậy, vấn đề giới tính hoàn toàn không can thiệp vào sự giải thoát. Nếu họ chuyển hóa thành công và chứng ngộ như nhau, và chính đức Phật đã thừa nhận như thế
Trong Kinh Dược Sư có đoạn: “Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai kia khi còn tu hành đạo Bồ tát phát những lời nguyện rộng lớn và những công đức trang nghiêm ở cõi Ngài, dầu ta nói mãn một kiếp hay hơn một kiếp cũng không thể nào nói cho hết được, nhưng ta có thể nói ngay rằng cõi Phật kia một bề thanh tịnh không có đàn bà, cũng không có đường dữ và cả đến tiếng khổ cũng không.
Thật chất, có hay không một cõi tịnh độ không có đàn bà? Và tại sao đã là thanh tịnh thì vắng bóng nữ nhân. Vấn đề này đã trở thành trung tâm điểm mà hầu hết người học Phật đã quan tâm: ‘Vai trò của nữ giới trong Kinh điển nhà Phật’ thật sự đã bình đẳng hay chưa? Vấn đề này sẽ được bóc trần ra khỏi vùng kinh văn và tham chiếu kinh văn hữu quan
Chúng ta sẽ gặp cặp ‘đối thoại’ giữa chương 29 (Kinh 42 chương) và Kinh Đại-bát-niết-bàn (kinh văn số 16) dường như trái ngược nhau. Thế nhưng, nếu chúng ta đi vào tham chiếu từng chi tiết và bình tâm xét về văn hóa và hiện tượng ngôn ngữ thì vấn đề này không có gì mâu thuẫn. Người viết sẽ đi từ bình diện ngôn ngữ đến chân lí đích thực của nó: “Có hay không sự bất bình đẳng về nữ giới trong kinh văn”

I. Phụ nữ và tội lỗi

1.1 Từ trong ca dao
Trong cuộc sống, người ta đã gán ghép sự tội lỗi, sự bất an, sự hiểm nguy bằng cách gán vào ‘tiền tố’ nữ trước danh xưng ấy. Sự nhập nhằng như thế, rất có thể nhầm lẫn sự đồng đẳng nữ nhân = rắc rối!
Thí dụ, nếu một ai đó bất trắc trong sự phòng trong phòng chống cháy nỗ, thì chẳng may xảy ra cháy nỗ thì người ta nói: ‘ hỏa viếng nhà’ (chữ in đậm là nhấn mạnh của người viết - DH).
Thế thì tại sao người ta gán chữ Bà/Nữ giới vào trường hợp bất trắc này? Rất đơn giản, vì phụ nữ là ổ chứa mọi sự rắc rối (!)
Một người buông dưa lê, ngồi lê đôi mách thì được gọi là tám, thế nhưng một mày râu nhiều chuyện thì không được gán là Ông tám! Bà tám trở thành thuộc tính chung để ám chỉ người buông dưa lê…
Bấy nhiêu đó thôi, hàng loạt các vấn đề ‘ám bức’ phụ nữ được đè lên đầu nữ giới. Thông thường, người ta thích ‘cấy’ phụ gia từ nữ trong vấn đề xấu (thay vì ‘bình đẳng’ trong ngôn ngữ)
“Cây độc không trái/Gái độc không con”. Đó là câu ca dao đầy nghiệt ngã của một thời phong kiến đã đè lên đôi vai nhỏ bé người phụ nữ một thời. Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học y khoa, ‘gái độc không con’ đã minh oan cho người phụ nữ. Vì sự không con của họ thì không thể chỉ có phái nữ, mà đôi lúc mấy ông mới là thủ phạm!

1.2 Đến kinh điển Phật giáo
“Lại nữa, Bồ-tát quán dục đủ các thứ bất tịnh. Ở trong các thứ suy, nữ suy nặng nhất. Các loại đao, lửa, sấm, chớp, sét đánh, oan gia, Rắn độc, còn có thể tạm gần, chứ người nữ xan tham, tật đố, sân si, nịnh hót, mỹ miều, ô uế, đấu tranh, không thể thân cận, vì sao? Vì con gái tiểu nhân, tâm cạn trí mỏng, chỉ dục là thân, không xét giàu sang, trí đức, tiếng tăm, chuyên làm dục ác, phá thiện căn của người. Các thứ gông cùm, khóa kẹp, nhốt trói, nhà tù, tuy là khó mở mà còn dễ mở, chớ người nữ khóa trói người, bén rễ sâu bền, kẻ vô trí chết chìm trong đó, khó có thể thoát ra được. Trong các thứ chết, nữ bệnh nặng nhất…”(Luận Đại Trí Độ I, chương 24 Sằn đề Ba-la-mật)
II. Luận về nữ nhân và quan điểm của đức Phật về bình đẳng giới
Luận về Nữ nhân

欲使初心之行人厭女色,故經論中常毀斥女人 (Đinh Phúc Bảo/ Phật học đại từ điển/Tạp ngữ) [Dịch: Vì muốn người sơ tâm tu hành xa rời nữ sắc, cho nên trong kinh luận thường kích bác, gạt bỏ người nữ].
Như vậy, với định nghĩa này: vì muốn người sơ tâm tu hành (tất nhiên là nam giới) có một giai đoạn trơn tru không vấp ngã, trong kinh văn đã đưa bức bình phong: ‘nữ nhân là tội lỗi’
Lối định nghĩa của Đinh Phúc Bảo đã trả về sự quan điểm từ bi của đức Phật
Thay lời kết luận
“Bạch Thế tôn, chúng con phải cư xử với phái nữ như thế nào?
-- Này Ananda, chớ có thấy chúng.
-- Bạch Thế tôn, nếu phải thấy chúng, thời phải như thế nào?
-- Này Ananda, chớ có nói chuyện với chúng.
-- Bạch Thế tôn, nếu phải nói chuyện với chúng, thời phải như thế nào?
-- Này Ananda, phải an trú chánh niệm”
Với bài kinh này (Đại Bát Niết-bàn, kinh văn số 16, Trường bộ I) thì có lẽ chính đức Phật đã gián tiếp dạy dỗ những người sơ tâm vào đạo phải xử lí người nữ như thế nào. Câu định nghĩa của Đinh Phúc Bảo đã thật sự vén màn cho định nghĩa phía sau:
Trong Kinh 42 chương, chương 29 đã nói: “Ta làm Sa-môn sống giữa cuộc đời ô nhiễm, phải như hoa sen không bị bùn làm ô nhiễm. Nghĩ rằng người (nữ) già như mẹ, người (nữ) lớn tuổi (hơn mình) như chị, người (nữ) nhỏ (hơn mình) như em gái, đứa bé (gái) như con, sinh khởi tâm cứu độ họ được giãi thoát. Như vậy liền diệt được ý niệm xấu đối với nữ nhân".
Tuy nhiên, vai trò người nữ nếu đặt vào vị trí của Mật tông đã nâng tầm phụ nữ lên một nấc cao hơn: “Người nữ là biểu trưng cho Tam-muội (tức thiền định), người Nam biểu trưng cho trí tuệ 女人是三昧像。男子是智慧像” (Taishō 39, No.1796, p., 627c)
Như vậy, câu nói trong Kinh Dược Sư: rằng cõi Phật kia một bề thanh tịnh không có đàn bà (thay vì phải nói: cõi tịnh độ ấy/cực lạc ấy hoàn toàn thanh tịnh/không nhiễm ô, thì đức Phật đã so sánh sự nhiễm ô = phụ nữ. Như vậy, không nhiễm ô là tịnh độ.
Tịnh độ chính là vắng mặt của bỉ thử; ý niệm về nam lẫn nữ…
Không có một cảnh giới nào chỉ toàn là giống đực (hoặc giống cái trong Tây lương mỹ quốc [Tây Du kí, tập 22 trong phim) cả!
Và như vậy, đẩy lùi nhiễm ô và trong sạch hóa môi trường lẫn thân – tâm, ngay đây là tịnh độ, lúc này mới thực sự là an trú giữa từng lưới dệt bằng tia sáng, tỏ hơn vừng nhựt nguyệt . Đó là con đường dẫn đến Lưu ly và quang Như lai tánh trong Kinh Dược Sư. Đây là dược tính và trị liệu cả nam và nữ trong Kinh Dược Sư: trị lành cả khái niệm về Nam lẫn nữ, và sau đó đi vào thế giới tràn ngập ánh sáng vô nhiễm: an trú ở tầng lưới dệt bằng tia sáng, vượt xa ánh nhật nguyệt của trần gian

Thích Thiện Trí

Cựu tăng sinh K.VI, khoa Trung – Nhật – Hàn, HVPGVN tại TP.HCM

[1] Trần Phương Lan, Đức Phật lịch sử , trang 274 (Dẫn lại Viên Trí, Lược sử Phật giáo Ấn Độ. 2006. TPHCM: NXB Phương Đông, trang 105)
[2] Thích Huyền Dung dịch, Kinh Dược Sư Bổn nguyện công đức. 1991. TPHCM: THPG/TPHCM ấn hành, trang 64 (chỗ in đậm là nhấn mạnh của người viết – DH)
[3] Thích Minh Châu dịch, Đại Tạng Kinh Việt Nam, Kinh Trường Bộ I. 2005. HN: Nhà Xuất Bản Tôn giáo, 2005, trang 644
[4] Thích Hoàn Quan, Phật Tổ Ngũ Kinh. 1995. TPHCM: THPGTP/HCM ấn hành, trang 252



 


Những bài mới hơn:
Những bài cũ hơn: